vanban.org

Bản án 251/2018/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Đồng Nai Tuyên án 02/11/2018 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 02/11/2018 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt: bị cáo Trương Thị L (T1) 11 (mười một) năm tù.

Tổng hợp với hình phạt của bản án số 99/2017/HSST ngày 12/9/2017 của Tòa án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai, xử phạt 10 năm tù. Về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 21 (hai mươi mốt) năm tù. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trương Thị L (T1) - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt: bị cáo Trương Thị L (T1) 11 (mười một) năm tù.
  • Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 251/2018/HS-PT
Ngày: 02/11/2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đinh Quang Nghĩa.

Các thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Thành;

Ông Trần Thanh Tùng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Thế Mạnh – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Võ Ngọc Khánh Linh – Kiểm sát viên.

Ngày 02 tháng 11 năm 2018, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai tiến hành xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 219/2018/TLPT-HS ngày 25 tháng 9 năm 2018 đối với bị cáo Trương Thị L do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 76/2018/HS-ST ngày 16/8/2018 của Tòa án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai.

Bị cáo có kháng cáo: Trương Thị L (T1), sinh năm 1978, tại Bình Phước; ĐKTT: Ấp X, xã P, huyện L1, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Phật giáo; Giới tính: Nữ. Cha là ông Trương B1 (đã chết), mẹ là bà Đỗ Thị Ng; bị cáo là con thứ 04 trong gia đình; Chồng: ông Nguyễn Văn T3, sinh năm 1970 (chưa ly hôn nhưng hiện không sống chung); bị cáo có 06 người con, lớn nhất sinh năm 1999, nhỏ nhất sinh năm 2017.

Tiền án: Bản án số 99/2017/HSST ngày 12/9/2017 của Tòa án nhân dân huyện Long Thành xử phạt 10 năm tù giam về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Tiền sự: không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 19/01/2018, chuyển sang chấp hành hình phạt tù đối với bản án số 99/2017/HSST ngày 12/9/2017 từ ngày 25/01/2018 theo Quyết định hủy bỏ quyết định tạm hoãn chấp hành hình phạt tù số 02/2018/QĐ-CA ngày 25/01/2018 của Chánh án Tòa án nhân dân huyện Long Thành. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đồng Nai.

(Bị cáo có mặt, các bị cáo Hoàng Văn B, Trần Anh T, Nguyễn Ngọc Triệu N không kháng cáo nên không triệu tập).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lúc 13 giờ ngày 19/01/2018, tại phòng trọ của Trương Thị L tổ 23, ấp X, xã P, huyện L1, Công an huyện Long Thành phối hợp với Công an xã P bắt quả tang Hoàng Văn B đang chuẩn bị bán ma túy cho Nguyễn Văn L2.

Vật chứng thu giữ: 01 túi nylon có chứa hạt tinh thể màu trắng nghi ma túy, 01 xe mô tô hiệu Vision biến số 72F1 - 394.34 và số tiền 3.950.000 đồng.

Tiến hành khám xét khẩn cấp thu giữ: 01 đoạn ống hút nhựa màu đen được hàn kín một đầu, 03 nỏ thủy tinh, 01 cân điện tử, 03 gói nylon bên trong chứa nhiều túi nylon nhỏ và 42 túi nylon chứa tinh thể màu trắng nghi là ma túy.

Quá trình điều tra đã xác định: Trương Thị L là người đã bị kết án 10 năm tù về tội mua bán trái phép chất ma túy và đang trong thời gian được hoãn chấp hành án vì lý do đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi và đang mang thai, hiện L sống cùng với Hoàng Văn B, Trần Anh T và Nguyễn Ngọc Triệu N tại phòng trọ nêu trên. L rủ B, T và N cùng phụ giúp bán ma túy L trả công cho B, T và N bằng cách cho ăn, ở và sử dụng ma túy không mất tiền.

Bắt đầu từ tháng 9/2017, để có tiền tiêu xài và mua ma túy sử dụng, L nảy sinh ý định tiếp tục mua ma túy về phân nhỏ bán lại cho những người nghiện. Nguồn gốc ma túy L mua của một người đàn ông tên H ở khu vực quận Y, thành phố Hồ Chí Minh với cách thức L gọi điện thoại cho H rồi H gửi ma túy lên xe khách chuyển về L1 cho L, mỗi lần L mua ma túy với giá 11.000.000 đồng sau đó mang về phòng trọ phân chia nhỏ để bán cho những người nghiện.

Khi có người nghiện mua ma túy gọi điện thoại cho L, L trực tiếp thỏa thuận giá cả và địa điểm giao ma túy. Sau đó, L cử B, T hoặc N mang ma túy đi giao cho những ngưòi nghiện. Lúc 16 giờ ngày 18/01/2018, L mua ma túy của H với giá 11.000.000 đồng sau đó mang về phòng trọ phân chia nhiều túi nhỏ để sử dụng và bán cho những người nghiện.

Đến 12 giờ ngày 19/01/2018, có Nguyễn Văn L2 gọi điện thoại cho L hỏi mua 25g ma túy với giá 1.900.000 đồng, L đồng ý và hẹn đến phòng trọ của L lấy. Sau đó, L lấy ma túy đưa cho B và nói khi nào Linh đến thì đưa. Đến 13 giờ cùng ngày, Linh đến gọi cửa mua ma túy, B chưa kịp đưa ma túy cho Linh thì bị công an bắt quả tang cùng vật chứng.

Quá trình mua bán ma túy, L khai nhận chỉ thu lời từ phần ma túy dư ra để sử dụng cho bản thân, cho B, T, N và tiêu xài cá nhân nên không xác định được số tiền thu lợi. Phương tiện L sử dụng cho việc mua bán ma túy là 01 xe mô tô biển số 72F1 - 394.34. Những người thường mua ma túy của L là Đoàn An Kh, Lâm Bình S, Trương Quốc Tr, Dương Ngọc H1, Huỳnh Văn T2, Huỳnh Bá V, Trần Thị Bích H2, Nguyễn Văn L2, Nguyễn Tuấn K và Lâm Thị Cẩm T4 và một số người nghiện không rõ tên tuổi địa chỉ.

Tại bản kết luận giám định số 116/PC54-GĐMT ngày 25/01/2018 của Phòng kĩ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai kết luận:

- Mẫu tinh thể màu trắng (kí hiệu Ml) được niêm phong gửi đến giám định

là ma túy, có trọng lượng 22,2070gam, loại Methamphetamine.

- Mẫu tinh thể màu trắng (kí hiệu M2) được niêm phong gửi đến giám định

là ma túy, có trọng lượng 2,5126gam, loại Methamphetamine.

Vật chứng vụ án: 01 gói đã được niêm phong chứa ma túy số 116/PC54-GĐMT, 03 gói nylon dùng để chứa nhiều túi nylon nhỏ, 03 ống thủy tinh, 01 cân điện tử, 01 đoạn ống hút nhựa màu đen được hàn kín một đầu do các bị can sử dụng làm phương tiện phạm tội, đề nghị tịch thu tiêu hủy.

Đối với số tiền 3.950.000 đồng của bị can L do bán ma túy mà có đề nghị tịch thu sung quỹ nhà nước. Riêng đối với 01 xe mô tô B số 72F1 - 394.34 do chưa xác định được chủ sở hữu hợp pháp nên Cơ quan điều tra Công an huyện Long Thành tiếp tục xác minh xử lý sau.

Trước Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Long Thành,Trương Thị L, Hoàng Văn B, Trần Anh T và Nguyễn Ngọc Triệu N đã khai nhận hành vi phạm tội nêu trên phù hợp với lời khai người làm chứng và các chứng cứ tài liệu thu thập tại hồ sơ vụ án.

Tại bản Cáo trạng số 45a/CT-VKS ngày 06 tháng 6 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành đã truy tố bị cáo Trương Thị L về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm b, c, i và q khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015; truy tố bị cáo Hoàng Văn B, Trần Anh T và Nguyễn Ngọc Triệu N tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b, c và i khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại bản án sơ thẩm số: 76/2018/HS-ST ngày 16 tháng 8 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện Long Thành: Tuyên bố bị cáo Trương Thị L phạm tội “ Mua bán trái phép chất ma túy”.

Căn cứ vào điểm b, c, i và q khoản 2 Điều 251; điểm s, khoản 1 Điều 51; Điều 56, 58 của Bộ luật hình sự năm 2015; Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự - 2015 và Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQHI4 ngày 30/12/2016 của ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Xử phạt: bị cáo Trương Thị L 11 (mười một) năm tù. Tổng hợp với hình phạt của bản án số 99/2017/HSST ngày 12/9/2017 của Tòa án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 21 (hai mươi mốt) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 19/01/2018 được trừ đi thời hạn bị tạm giữ từ ngày 19/5/2017 đến ngày 26/5/2017 (thời gian giữ theo bản án số 99/2017/HSST).

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo của bị cáo.

Ngày 27/8/2018, bị cáo Trương Thị L kháng cáo án xử nặng, nêu hoàn cảnh gia đình khó khăn, và xin giảm nhẹ hình phạt.

Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai:

Tòa sơ thẩm đánh giá toàn bộ vụ án và xét xử bị cáo Trương Thị L 11

“ (mười một) năm tù. Về tội Mua bán trái phép chất ma túy” là có căn cứ đúng pháp luật. Bị cáo kháng cáo nhưng không cung cấp được tình tiết nào mới. Đề nghị y án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng, đơn kháng cáo của bị cáo làm trong hạn luật định nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

Về nội dung vụ án: Từ tháng 9/2017 đến ngày 19/01/2018 bị cáo Trương Thị L đã nhiều lần mua, bán trái phép chất ma túy. Bị cáo L còn thuê Hoàng Văn B, Trần Anh T và Nguyễn Ngọc Triệu N phụ giúp L bán chất ma túy cho nhiều con nghiện. Qua thẩm vấn bị cáo khai nhận tội, phù hợp lời khai nhân chứng, lời khai bị cáo B, T, N và các tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ. Xét án sơ thẩm xử bị cáo Trương Thị L về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b, c, i và q khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 là có căn cứ đúng người, đúng tội.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm, đã xâm phạm đến sự quản lý độc quyền của nhà nước, gây mất trật tự trị an xã hội, đã xâm phạm đến sức khỏe và sự phát triển của con người, là nguyên nhân có thể phát sinh ra nhiều tệ nạn xã hội khác. Ngày 12/9/2017 bị cáo L bị Tòa án nhân dân huyện Long Thành xử phạt 10 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” trong thời gian được hoãn chấp hành án, lại tiếp tục phạm tội rất nghiêm trọng thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm, Vì vậy, cần thiết phải xử nghiêm có thời gian dài giáo dục, cải tạo để răn đe và phòng ngừa chung.

Án sơ thẩm đã xem xét toàn diện vụ án và xử phạt bị cáo 11 năm tù là phù hợp. Tại tòa phúc thẩm, bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ án, nhưng không cung cấp được tình tiết nào mới, do đó không có cơ sở xem xét.

Về quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Về án phí: Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ Điểm a Khoản 1 Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trương Thị L.

2. Áp dụng điểm b, c, i và q khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 56; Điều 58 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQHI4 ngày 30/12/2016 của ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Xử phạt: bị cáo Trương Thị L (T1) 11 (mười một) năm tù. Về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Tổng hợp với hình phạt của bản án số 99/2017/HSST ngày 12/9/2017 của Tòa án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai, xử phạt 10 năm tù. Về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 21 (hai mươi mốt) năm tù.

Thời hạn tù tính từ ngày 19/01/2018, được trừ đi thời hạn bị tạm giữ (theo bản án số 99/2017/HSST) từ ngày 19/5/2017 đến ngày 26/5/2017.

3. Bị cáo L phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ