vanban.org

Bản án 250/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị Cẩm N đối với anh Nguyễn Văn Tiến L. Chị Nguyễn Thị Cẩm N được ly hôn với anh Nguyễn Văn Tiến L.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ và chồng khi ly hôn không đặt vấn đề xem xét, giải quyết do không có yêu cầu. Về con chung: Chị Nguyễn Thị Cẩm N được trực tiếp nuôi con chung tên Nguyễn Tiến K, sinh ngày 21/10/2022. Anh L không phải cấp dưỡng nuôi con chung do chị N không có yêu cầu. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn giữa Nguyễn Thị Cẩm N - Nguyễn Văn Tiến L"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị Cẩm N đối với anh Nguyễn Văn Tiến L. Chị Nguyễn Thị Cẩm N được ly hôn với anh Nguyễn Văn Tiến L.
  • Căn cứ chính? Luật Tố tụng Hành chính; Luật Tư pháp người; Luật Phá sản
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 9 – VĨNH LONG
——————————

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 250/2026/HNGĐ-ST
Ngày: 03-9-2026
V/v: “Ly hôn, con chung”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - VĨNH LONG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thủy Tiên

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Bùi Thị Duyên

Ông Huỳnh Công Phi

Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Thúy Vân – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 9 - Vĩnh Long.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 - Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Mai Ly – Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 9 năm 2026 tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 9 - Vĩnh Long mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 452/2026/TLST-HNGĐ ngày 29 tháng 5 năm 2026 về việc tranh chấp“Ly hôn, con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 206/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 03 tháng 8 năm 2026; Quyết định hoãn phiên tòa số: 195/2026/QĐST-HNGĐ, ngày 18 tháng 8 năm 2026 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: chị Nguyễn Thị Cẩm N, sinh năm 1991. Địa chỉ: ấp H, xã T, tỉnh Vĩnh Long (có đơn xin xét xử vắng mặt).

- Bị đơn: anh Nguyễn Văn Tiến L, sinh năm 1989. Địa chỉ: ấp B nay là ấp N, xã H, tỉnh Vĩnh Long (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo nội dung đơn khởi kiện, đơn xin xét xử vắng mặt, trong quá trình tố tụng tại tòa án – nguyên đơn chị Nguyễn Thị Cẩm N trình bày:

Chị và anh Nguyễn Văn T Lên quen biết, tìm hiểu nhau, được gia đình hai bên đồng ý và bắt đầu sống chung vào năm 2019. Đến năm 2022, chị và anh L mới đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện M, tỉnh Bến Tre nay là Ủy ban nhân dân xã T, tỉnh Vĩnh Long, theo giấy chứng nhận đăng ký kết hôn ngày 16/5/2022. Sau khi kết hôn, chị và anh lên sống chung tại nhà của anh L, hai vợ chồng sống rất hạnh phúc cùng nhau lo làm ăn phát triển kinh tế gia đình. Tuy nhiên, sau một thời chung sống hai vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, bất đồng quan điểm, cả hai không có tiếng nói chung trong cuộc sống hôn nhân, những cuộc cự cãi giữa hai vợ chồng xảy ra ngày càng nhiều làm cho không khí trong gia đình không vui vẻ như trước. Mỗi lần cãi nhau, anh L hay chửi bới và đánh chị, nên chị đã về nhà mẹ ruột ở khoảng 3 tháng nay. Chị nhận thấy giữa chị và anh L không thể tiếp tục sống cùng với nhau, cả hai không còn yêu thương, quan tâm, chăm sóc nhau, hôn nhân giữa chị và anh L không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được.

Nên nay về hôn nhân chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Văn Tiến L, không yêu cầu cấp dưỡng vợ chồng khi ly hôn. Về con chung, giữa chị và anh L có một con chung tên Nguyễn Tiến K, sinh ngày 21/10/2022, con chung hiện đang sống với chị. Khi ly hôn chị yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung, không yêu cầu L cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung không có, nên không yêu cầu tòa án giải quyết.

Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Nguyễn Văn Tiến L luôn vắng mặt trong các lần hòa giải, công khai chứng cứ, xét xử nên không có lời trình bày.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa:

Về tố tụng: Trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án đã thực hiện đầy đủ quy định Bộ luật Tố tụng dân sự; Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa đã thực hiện đầy đủ theo đúng thủ tục tố tụng. Người tham gia tố tụng là nguyên đơn chấp hành đúng quy định của pháp luật Tố tụng dân sự. Riêng bị đơn được Toà án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng không tham gia tố tụng là vi phạm khoản 16 Điều 70 và Điều 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: căn cứ vào Điều 5, khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 58 và Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng Hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hoà giải đối thoại tại Toà án; các Điều 8, 51, 53, 56, 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án. Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị Cẩm N. Về hôn nhân, chị N được ly hôn với anh Nguyễn Văn Tiến L. Chị N không yêu cầu cấp dưỡng giữa vợ chồng sau ly hôn nên không xem xét giải quyết. Về con chung, giao con chung tên Nguyễn Tiến K, sinh ngày 21/10/2022 cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng, anh L không phải cấp dưỡng nuôi con chung do chị N không yêu cầu. Anh L có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Về tài sản chung, chị N không yêu cầu giải quyết, nên không xem xét giải quyết. Về nợ chung không có, không yêu cầu giải quyết, nên không xem xét giải quyết.

Về án phí, đây là tranh chấp về ly hôn và yêu cầu của chị N được chấp nhận nên chị N chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng, nhưng chị N đóng tạm ứng án phí nên khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0010366 ngày 28/5/2026.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ, lời trình bày của các đương sự; sau khi phân tích, đánh giá toàn diện, nhận định đầy đủ, khách quan về các chứng cứ, những tình tiết của vụ án và đề nghị của Kiểm sát viên; Hội đồng xét xử nhận định:

Về thẩm quyền: Chị Nguyễn Thị Cẩm N có đơn khởi kiện xin ly hôn với anh Nguyễn Văn Tiến L, yêu cầu nuôi con chung. Bị đơn anh Nguyễn Văn T Lên có nơi cư trú tại ấp B nay là ấp N, xã H, tỉnh Vĩnh Long nên căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì xác định đây là vụ án tranh chấp về ly hôn, con chung và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 9 – Vĩnh Long.

Về tố tụng: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Cẩm N có đơn xin xét xử vắng mặt, còn bị đơn anh Nguyễn Văn Tiến L đã được Tòa triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham dự phiên tòa xét xử sơ thẩm nhưng anh L vẫn vắng mặt không lý do, nên Tòa án xét xử vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng trong vụ án là đúng theo quy định tại Điều 227, Điều 228, khoản 1 Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Cẩm N và anh Nguyễn Văn Tiến L kết hôn năm 2022, có đăng ký kết hôn theo giấy chứng nhận kết hôn ngày 16/5/2022 của Ủy ban nhân dân xã H, huyện M, tỉnh Bến Tre nay là Ủy ban nhân dân xã T, tỉnh Vĩnh Long. Trong thời gian chung sống, theo chị N cho rằng giữa chị N và anh L không có tiếng nói chung trong cuộc sống hôn nhân, những cuộc cự cãi giữa hai vợ chồng xảy ra ngày càng nhiều làm cho không khí trong gia đình không vui vẻ. Mỗi lần cãi nhau, anh L hay chửi bới và đánh chị N. Chị N đã về nhà mẹ ruột của chị N ở khoảng 3 tháng nay. Từ lúc chị N và anh L sống ly thân, sau đó chị N nộp đơn khởi kiện xin ly hôn đến nay, tình cảm vợ chồng giữa chị N và anh L vẫn không hàn gắn lại được. Lẽ đó, có căn cứ cho thấy trong thời gian sống chung giữa chị N và anh L đã xảy ra mâu thuẫn trầm trọng, cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc, đời sống chung vợ chồng không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Nên việc chị N yêu cầu được ly hôn với anh L là có căn cứ, nên được Hội đồng xét xử chấp nhận. Chị N không yêu cầu về nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ chồng khi ly hôn, nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề xem xét, giải quyết.

Về con chung: Chị N trình bày trong thời gian sống chung giữa chị N và anh L có sinh được một con chung tên Nguyễn Tiến K, sinh ngày 21/10/2022. Con chung hiện đang sống với chị N, chị N có yêu cầu được nuôi con chung. Hội đồng xét xử xét thấy, từ lúc chị N và anh L sống ly thân đến nay, con chung vẫn sống với chị N, cháu K vẫn đang phát triển tốt về thể chất và tinh thần, nên việc chị N yêu cầu được nuôi con chung là có căn cứ và phù hợp quy định pháp luật, nên được Hội đồng xét xử chấp nhận. Anh L không phải cấp dưỡng nuôi con chung do chị N không có yêu cầu.

Về tài sản chung: Chị N trình bày không có, không yêu cầu giải quyết. Còn anh L vắng mặt, không có ý kiến trình bày, nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề xem xét, giải quyết.

Về nợ chung: Chị N trình bày không có, không yêu cầu giải quyết. Còn anh L vắng mặt, không có ý kiến trình bày, nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề xem xét, giải quyết.

Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Chị Nguyễn Thị Cẩm N phải chịu án phí 300.000 đồng, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0010366 ngày 28/5/2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Long.

Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, 227, 228, 235, 238, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng Hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hoà giải đối thoại tại Toà án.

Áp dụng các Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84, 115 Luật hôn nhân và gia đình.

Áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị Cẩm N đối với anh Nguyễn Văn Tiến L. Chị Nguyễn Thị Cẩm N được ly hôn với anh Nguyễn Văn Tiến L.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ và chồng khi ly hôn không đặt vấn đề xem xét, giải quyết do không có yêu cầu.

2. Về con chung: Chị Nguyễn Thị Cẩm N được trực tiếp nuôi con chung tên Nguyễn Tiến K, sinh ngày 21/10/2022. Anh L không phải cấp dưỡng nuôi con chung do chị N không có yêu cầu.

Sau khi ly hôn cha, mẹ người không trực tiếp nuôi con có quyền đến thăm, chăm sóc, giáo dục con chưa thành niên không ai được quyền ngăn cản.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên. Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con hay mức cấp dưỡng nuôi con.

3. Về tài sản chung: Chị N trình bày không có, không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề xem xét, giải quyết.

4. Về nợ chung: Chị N trình bày không có, không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề xem xét, giải quyết.

5. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Cẩm N phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0010366 ngày 28/5/2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Long. Như vậy án phí chị N đã nộp xong.

6. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử phúc thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ