vanban.org

Bản án 250/2025/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt Chiêm Văn M 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng năm tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày 25/12/2024.

Tịch thu tiêu hủy đối với: 01 (một) gói niêm P bên ngoài có các chữ ký ghi tên đại úy L (giám định viên) và Hồ Phương V bên trong có tinh thể còn lại sau khi phục vụ giám định là 2,1400g. Trả lại cho bị cáo: 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 8 Plus có Imei 1: 352979090567560, Imei 2: 352979090… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt Chiêm Văn M 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng năm tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày 25/12/2024.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

KHU VỰC 10 – THÀNH PHỐ H
THÀNH PHỐ H
Bản án số: 250/2025/HS-ST
Ngày: 27/11/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 – THÀNH PHỐ H

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Hoàng Tân

- Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Đặng Thị Huê

2. Bà Lê Thị Thúy Hằng

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn MHằng – Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 10 – Thành phố H.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 10 – Thành phố H tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Khắc Vũ – Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 11 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 10, Thành phố H xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 313/2025/TLST-HS ngày 31/10/2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 307/2025/QĐXXST-HS ngày 04/11/2025 đối với bị cáo:

Chiêm Văn M, giới tính: Nam; Tên gọi khác: không; Sinh ngày: 24/7/1966 tại Thành phố H; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Hoa; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 6/12; Nơi đăng ký thường trú: 52E, lầu 2, Ký Con, phường BT (trước đây là phường Nguyễn Thái B, Quận X), Thành phố H; Chỗ ở: không nơi cư trú nhất định; Con ông Chiêm Đợi (đã chết) và bà Nguyễn Thị Nga (đã chết); Bị cáo có vợ (đã chết) và 02 người con lớn nhất sinh năm 1990, nhỏ nhất sinh năm 2003;

Tiền án; tiền sự: Không.

Nhân thân:

- Năm 1984 bị Công an Quận 1 đưa đi cưỡng bức lao động 18 tháng về tội “Cướp giật tài sản hoặc công nhiên chiếm đoạt tài sản của công dân” theo Quyết định số 3509/QĐ ngày 04/6/1985.

- Ngày 12/5/1992, bị Toà án Thành phố H xử phạt 04 năm tù, về tội “Cướp tài sản của công dân” theo Bản án số 232/HSST ngày 12/5/1992. Đã chấp xong bản án.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/12/2024. (Bị cáo có mặt)

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

Ông Trần Hoàng D; sinh năm 1980; địa chỉ: 32/53/34 Ông Ích Khiêm, phường Hòa Bình, Thành phố H. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 21 giờ 20 phút ngày 25/12/2024, Công an xã Bình Chánh tuần tra đến trước địa chỉ C13/39, Ấp 11, xã BC, huyện BC (nay là xã BC), Thành phố H thì phát hiện Chiêm Văn M điều khiển xe mô tô biển số 51M3-8564 có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành yêu cầu dừng xe kiểm tra. Qua kiểm tra, phát hiện trong ống quần bên phải của Mđang mặc có 01 gói nylon chứa tinh thể, Mkhai nhận là ma túy đá của Mcất giữ để sử dụng. Do đó, lực lượng Công an thu giữ vật chứng và đưa Mvề trụ sở và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Minh. Vụ việc được chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bình Chánh để điều tra theo thẩm quyền.

Kết quả xét nghiệm ngày 25/12/2024, tại Trạm Y tế xã BC, huyện BC (nay là xã BC), Thành phố H đã xác định Chiêm Văn M dương tính với ma túy loại Methamphetamine.

Tại cơ quan điều tra, Chiêm Văn M khai nhận: Số ma tuý đá bị thu giữ là của người bạn tên T (không rõ lai lịch) cho Mđể sử dụng, ngày 25/12/2024 M gặp T tại ngã tư đường Ký Con – Nguyễn Công Trứ và Mhỏi T có ma tuý không thì T kêu Mđi đến gốc cây tại Công viên 23/9, phường Phạm Ngũ Lão, Quận 1 (nay là phường Bến Thành), Thành phố H để lấy 01 gói ma túy đá (Methamphetamine) và không phải trả tiền. Sau khi lấy được ma tuý Mcất giấu vào ống quần bên phải và điều khiển xe mô tô biển số 51M3-8564 đi về. Khi đến trước địa chỉ C13/39, Ấp 11, xã BC, huyện BC (nay là xã BC), Thành phố H thì bị lực lượng Công an bắt quả tang như trên.

Tại Bản Kết luận giám định số 838/KL-KTHS ngày 03/01/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an Thành phố H xác định: 01 gói được niêm P bên ngoài có chữ ký ghi Đặng Xuân Hậu (Điều tra viên) và hình dấu Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bình Chánh, bên trong có 01 gói nylon chứa tinh thể (ký hiệu mẫu m) qua giám định có khối lượng 2,6357 gam là ma túy ở thể rắn, loại Methamphetamine.

Tại Cáo trạng số 102/CT-VKS-HS ngày 20/8/2025 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 10 – Thành phố H đã truy tố bị cáo như sau:

Bị cáo Chiêm Văn M bị truy tố về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Ngoài ra cáo trạng còn xác định:

Đối với đối tượng tên “T” đã cho Mma tuý do không xác định được nhân thân lai lịch nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Thành phố H không có cơ sở xác Mlàm rõ để xử lý.

Tại phiên tòa hôm nay:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 10 – Thành phố H trình bày quan điểm luận tội như sau: sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ của bị cáo, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 10 – Thành phố H giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt Chiêm Văn M từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Bị cáo trình bày: Bị cáo thừa nhận hành vi như cáo trạng truy tố và tỏ ra ăn năn hối cải đề nghị Hội đồng xét xử xem xét khoan hồng cho bị cáo.

Quá trình tranh luận, đối đáp đại diện Viện kiểm sát cũng như bị cáo giữ nguyên quan điểm như đã nêu, không phát sinh tình tiết nào mới.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về căn cứ áp dụng pháp luật: Bộ luật Hình sự áp dụng trong vụ án này là Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2024, 2025) với nguyên tắc xử lý nghiêm trị đối với người chủ mưu, cầm đầu. Khoan hồng với người tự thú, thành khẩn khai báo, tố giác người đồng phạm, lập công chuộc tội, ăn năn hối cải, tự nguyện sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại gây ra theo quy định tại Điều 3 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2024, 2025).

Bên cạnh đó, Hội đồng xét xử xét hành vi phạm tội của bị xảy ra trước ngày 01/7/2025 là ngày Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2024, 2025) có hiệu lực thi hành. Tuy nhiên, khung hình phạt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2024, 2025) cao hơn so với quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Do đó, Hội đồng xét xử vận dụng khoản 1 Điều 4 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của bộ luật hình sự (Luật số 86/2025/QH15 ngày 25/6/2025) để xem xét các quy định không có lợi cho người phạm tội thì không áp dụng.

Về nội dung vụ án: Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng truy tố, căn cứ vào lời khai của bị cáo tại phiên tòa hôm nay, lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của những người làm chứng, chứng kiến, vật chứng là ma túy thu được, kết luận giám định cùng với các tài liệu, chứng cứ khác mà cơ quan điều tra đã thu thập được trong quá trình tố tụng. Trên cơ sở xem xét đánh giá công khai các chứng cứ một cách đầy đủ và toàn diện nhất, Hội đồng xét xử nhận định về nội dung vụ án như sau:

Vào lúc 21 giờ 20 phút ngày 25/12/2024, tại trước địa chỉ C13/39, Ấp 11, xã BC, huyện BC (nay là xã BC), Thành phố H, bị cáo Chiêm Văn M khi đang cất giấu 2,6357 gam là ma túy ở thể rắn, loại Methamphetamine với mục đích để sử dụng thì bị cơ quan chức năng phát hiện bắt quả tang.

Bị cáo là người đã thành niên, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức được hành vi của mình là trái pháp luật nhưng chỉ vì muốn thỏa mãn nhu cầu cá nhân mà bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội.

Theo đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định bị cáo Chiêm Văn M đã phạm vào tội“Tàng trữ trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tội phạm do bị cáo gây ra không những xâm hại đến chế độ độc quyền quản lý các chất ma túy của nhà nước mà còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương, là nguy hiểm cho xã hội nên cần xử lý nghiêm để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Hội đồng xét xử xét hoàn cảnh kinh tế của bị cáo nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Khi lượng hình Hội đồng xét xử có xem xét bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải do đó cần áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) để giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự mà lẽ ra bị cáo phải chịu.

Các nhận định trên cũng là nhận định của Hội đồng xét xử để chấp nhận quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát cũng như chấp nhận một phần mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đã đề nghị đối với bị cáo tại phiên tòa.

Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng:

+ Đối với số ma túy thu từ bị cáo xét cần tịch thu tiêu hủy.

+ Đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone 8 Plus, 01 điện thoại di động hiệu OPPO và 01 điện thoại di động hiệu NOKIA màu xanh đen, có gắn sim số 0899318836 của Minh, không liên quan đến vụ án nên xét cần trả lại cho bị cáo.

+ Đối với 01 xe máy biển số 51M3-8564, có số khung: RLHJC35055Y031047, số máy: JC35E-0030349 do ông Trần Hoàng D, sinh ngày 27/4/1980 ngụ tại 32/53/34 P, phường A, Quận X (nay là phường HB), Thành phố H đứng tên sở hữu. Ông D trình bày đã mua xe máy biển số 51M3-8564 và đứng tên giấy đăng ký giúp cho người anh tên P (không rõ lai lịch). Do thời gian quá lâu nên D không còn giữ liên lạc và cũng không rõ hiện nay người anh tên P hiện đang ở đâu và làm gì. M khai nhận: Đã mua lại xe từ một cửa hàng tại Bình Dương không nhớ rõ địa chỉ và chưa làm thủ tục sang tên. Hội đồng xét xử xét ngoài lời khai thì không còn chứng cứ nào khác thể hiện chiếc xe trên là của M nên xét cần đăng báo tìm chủ sở hữu đối với chiếc xe trên, sau thời hạn 01 năm nếu không có ai đến nhận thì tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt Chiêm Văn M 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng năm tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày 25/12/2024.

Căn cứ Điều 47, Điều 48 Bộ luật hình sự Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021):

Tịch thu tiêu hủy đối với: 01 (một) gói niêm P bên ngoài có các chữ ký ghi tên đại úy L (giám định viên) và Hồ Phương V bên trong có tinh thể còn lại sau khi phục vụ giám định là 2,1400g.

Trả lại cho bị cáo: 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 8 Plus có Imei 1: 352979090567560, Imei 2: 35297909056756 có gắn sim số 0793310134; 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO có số Imei: 86951054729215, số Imei 2: 869571054729207; 01 (một) điện thoại di động hiệu NOKIA màu xanh có gắn sim số 0899318836.

Tiếp tục đăng báo tìm chủ sở hữu đối với 01 (một) xe máy biển số 51M3-8564, có số khung: RLHJC35055Y031047, số máy: JC35E-0030349, sau thời hạn 01 (một) năm nếu không có ai đến nhận thì tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

(Theo Biên bản giao nhận tang tài vật ngày 15/8/2025 của Phòng Thi hành án Dân sự Khu vực 10 – Thành phố H)

Bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm

Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày 28/11/2025. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết.

Cỡ chữ