- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín - Bà Phù Kim Linh"
- Tòa quyết gì? Buộc bà L có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng T số tiền là 140.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Luật Phí và lệ phí; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 250/2025/DS-ST Ngày 20-8-2025 V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Cửu Thị Mẫn.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Kính
2. Bà Đặng Thu Vân
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Minh Hằng – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân Khu vực 10 – Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 10 – Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Dương Thị Thanh Nhàn – Kiểm sát viên.
Trong ngày 20 tháng 8 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 10 – Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 522/2024/TLST-DS ngày 28 tháng 11 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”; Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 203/2025/QĐXXST-DS ngày 23 tháng 6 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 46/2025/QĐST-DS ngày 23 tháng 7 năm 2025 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ngân hàng T; Trụ sở: 266-268 N, phường X (cũ: phường V, Quận B), Thành phố Hồ Chí Minh; Địa chỉ liên lạc: 86C-88 đường V, phường A (cũ: phường A, Quận M), Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Bà V, sinh năm: 1988; Địa chỉ ĐKTT: 48 đường số M, phường H (cũ: Phường B, quận G), Thành phố Hồ Chí Minh; Địa chỉ liên lạc: 86C-88 đường V, phường A (cũ: phường A, Quận M), Thành phố Hồ Chí Minh; Là người đại diện theo uỷ quyền của Ngân hàng T; Theo Giấy uỷ quyền ngày 21/8/2024.
2. Bị đơn: Bà L, sinh năm: 1992; Địa chỉ: 316 Lô F, chung cư H, phường C (cũ: phường H, Quận T), Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ghi ngày 01 tháng 11 năm 2023 và ngày 21 tháng 8 năm 2024 cùng các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án nguyên đơn Ngân hàng T có bà V làm đại diện trình bày: Ngân hàng T và bà L ký giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 26/10/2018. Ngày cấp thẻ là 09/11/2018, loại thẻ JCB JSpeedy Credit Gold, số thẻ 356481-3746, hạn mức: 50.000.000 đồng. Mục đích là tiêu dùng cá nhân. Lãi suất của thẻ 356481-3746 khi chưa phát sinh quá hạn là 33.2%/năm. Bà L sử dụng thẻ từ ngày 22/11/2018, đã sử dụng tổng cộng 139.452.191 đồng, đã thanh toán 146.241.288 đồng. Tổng phí trễ hạn là 4.132.952 đồng, phí vượt hạn mức là 2.039.312 đồng và phí thường niên thẻ là 658.500 đồng. Từ ngày 22/8/2022, bà L ngừng thanh toán Ngân hàng T.
Từ ngày 23/7/2022 bà L ngưng thanh toán. Qua 2 kỳ thông báo giao dịch gồm ngày 22/8/2022 và ngày 22/9/2022, bà L không thanh toán dư nợ cho Ngân hàng T là vi phạm nghĩa vụ thanh toán. Ngày 22/10/2022 chuyển sang nợ quá hạn với số tiền nợ gốc là 59.119.896 đồng, lãi suất áp dụng là 0.13%/ngày. Khi bị đơn chậm thực hiện Ngân hàng T có gọi điện, gửi thông báo thu hồi nợ và chuyển sang nợ qúa hạn qua email theo địa chỉ email đã đăng ký với ngân hàng. Ngoài ra, Ngân hàng T gửi bưu điện thông báo thu hồi nợ ngày 10/3/2023 đến địa chỉ nhà của bà L (đính kèm lịch sử trên hệ thống và thông báo thu hồi nợ ngày 10/03/2023).
Nay Ngân hàng T khởi kiện yêu cầu bà L thanh toán tổng dư nợ đến hết ngày 20/8/2025 là 140.740.968 đồng. Trong đó: nợ gốc là 59.119.896 đồng; Lãi quá hạn là 81.621.072 đồng. Ngân hàng T vẫn tiếp tục tính lãi ngày tiếp theo và bên bị đơn trả một lần cho Ngân hàng T.
Bị đơn bà L đã được Tòa án tiến hành thông báo thụ lý vụ án và đã nhiều lần triệu tập hợp lệ đương sự đến Tòa án để giải quyết vụ án nhưng đương sự không đến, do đó không có lời khai của đương sự tại Tòa.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến: Kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án; Nguyên đơn chấp hành tốt pháp luật tố tụng khi tham gia tố tụng dân sự; Bị đơn chấp hành chưa tốt pháp luật tố tụng khi tham gia tố tụng dân sự. Về phần nội dung vụ án đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Xét đơn khởi kiện của Ngân hàng T thì đây là vụ án dân sự tranh chấp hợp đồng tín dụng, do bị đơn cư trú tại phường C, Thành phố Hồ Chí Minh. Nên vụ án này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 10 – Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại các điều 26, 35, 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết 81/2025UBTVQH15 ngày 27/6/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về thành lập Tòa án nhân dân cấp Tỉnh, Tòa án nhân dân khu vực, quy định phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ Tòa án nhân dân cấp Tỉnh, Tòa án nhân dân khu vực; Điều 5 của Nghị Quyết 01/2025/NQ-HĐTP ngày 27/6/2025 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao, hướng dẫn áp dụng một số quy định về tiếp nhận nhiệm vụ, thực hiện thẩm quyền của Tòa án nhân dân.
Xét bị đơn bà L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt tại phiên tòa; Bà T là người đại diện theo uỷ quyền của Ngân hàng T có Đơn xin vắng mặt. Do đó, Toà án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt họ theo quy định tại Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Xét Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ký ngày 26/10/2018 giữa Ngân hàng T với bà L; Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng tín dụng của Ngân hàng T gồm các điều khoản chính sau: Ngân hàng T đồng ý cấp thẻ tín dụng loại thẻ JCB JSpeedy Credit Gold, số thẻ 356481-3746, hạn mức: 50.000.000 đồng. Mục đích là tiêu dùng cá nhân. Lãi suất của thẻ 356481-3746 khi chưa phát sinh qúa hạn là 33,2%/năm. Từ ngày 23/7/2022 bà L ngưng thanh toán nợ thẻ cho Ngân hàng T. Ngân hàng T đã thông báo cho bà L qua 2 kỳ giao dịch gồm ngày 22/8/2022 và ngày 22/9/2022 bà L nhưng bà L vẫn không thanh toán dư nợ. Ngày 22/10/2022 Ngân hàng T đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn đối với bà L tại thời điểm đó là 59.119.896 đồng, lãi suất áp dụng là 0,13%/ngày.
Ngân hàng T đã đưa ra các chứng cứ và tình tiết như hợp đồng, thông báo nợ, lịch sử giao dịch. Bà L đã được thông báo nhưng không có ý kiến phản hồi. Do đó, Tòa án có cơ sở để xác định các tình tiết trên là sự thật theo quy định tại Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Xét trong quá trình thực hiện Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 26/10/2018; Kèm theo Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng tín dụng của Ngân hàng T.
Tính từ ngày 23/7/2022 cho đến nay bà L đã ngừng thanh toán các khoản nợ thẻ tín dụng cho Ngân hàng T; Là vi phạm thỏa thuận mà hai bên đã thỏa thuận ký kết, Điều 466 của Bộ luật dân sự và Luật các tổ chức tín dụng.
Sau khi bà L ngừng thanh toán các khoản nợ thẻ tín dụng, Ngân hàng T đã gửi các thông báo giao dịch vào ngày 22/8/2022 và 22/9/2022. Tuy nhiên, bà L đã không thực hiện thanh toán dư nợ, tiếp tục vi phạm nghĩa vụ trả nợ. Do bà L không thanh toán các khoản nợ thẻ tín dụng, Ngân hàng đã chuyển toàn bộ dư nợ còn lại sang nợ quá hạn vào ngày 22/10/2022 với số tiền nợ gốc là 59.119.896 đồng.
Việc Ngân hàng T khởi kiện yêu cầu bà L thanh toán tổng dư nợ đến hết ngày 20/8/2025 là 140.740.968 đồng (trong đó: nợ gốc là 59.119.896 đồng, Lãi quá hạn là 81.621.072 đồng) và tiền lãi phát sinh tính từ ngày tiếp theo của ngày 20/8/2025 cho đến khi trả dứt nợ vay. Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng T là có cơ sở chấp nhận.
Tại khoản 1 Điều 466 của Bộ luật dân sự quy định nghĩa vụ trả nợ của bên vay: “Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn; nếu tài sản là vật thì phải trả vật cùng loại đúng số lượng, chất lượng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác”.
Tại khoản 1 và khoản 2 Điều 91 của Luật các Tổ chức tín dụng quy định lãi suất, phí trong hoạt động kinh doanh của tổ chức tín dụng: “1. Tổ chức tín dụng được quyền ấn định và phải niêm yết công khai mức lãi suất huy động vốn, mức phí cung ứng dịch vụ trong hoạt động kinh doanh của tổ chức tín dụng. 2. Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật”.
Xét về án phí dân sự sơ thẩm:
Bà L phải chịu án phí trên tổng số tiền thanh toán cho Ngân hàng T. Ngân hàng T không phải chịu án phí và được trả lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 92, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 466 của Bộ luật dân sự;
Căn cứ vào khoản 1 và khoản 2 Điều 91 của Luật các Tổ chức tín dụng;
Căn cứ vào Nghị quyết 81/2025UBTVQH15 ngày 27/6/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về thành lập Tòa án nhân dân cấp Tỉnh, Tòa án nhân dân khu vực, quy định phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ Tòa án nhân dân cấp Tỉnh, Tòa án nhân dân khu vực;
Căn cứ vào Điều 5 của Nghị Quyết 01/2025/NQ-HĐTP ngày 27/6/2025 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao, hướng dẫn áp dụng một số quy định về tiếp nhận nhiệm vụ, thực hiện thẩm quyền của Tòa án nhân dân;
Căn cứ vào Luật Thi hành án dân sự;
Căn cứ Luật Phí và Lệ phí năm 2015;
Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Buộc bà L có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng T số tiền là 140.740.968 (Một trăm bốn mươi triệu bảy trăm bốn mươi ngàn chín trăm sáu mươi tám) đồng; Trong đó: nợ gốc là 59.119.896 (Năm mươi chín triệu một trăm mười chín ngàn tám trăm chín mươi sáu) đồng; Lãi quá hạn là 81.621.072 (Tám mươi mốt triệu sáu trăm hai mươi mốt ngàn không trăm bảy mươi hai) đồng tính đến ngày 20/8/2025; Theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 26/10/2018, kèm theo Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng tín dụng của Ngân hàng T.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm bà L còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng T thì lãi suất mà bà L phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng T theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh của lãi suất của Ngân hàng T.
2. Án phí dân sự sơ thẩm:
Bà L phải chịu là 7.037.048 (Bảy triệu không trăm ba mươi bảy ngàn không trăm bốn mươi tám) đồng.
Ngân hàng T không phải chịu án dân sự sơ thẩm. Hoàn lại cho Ngân hàng T tiền tạm ứng án phí đã nộp là 1.948.740 (Một triệu chín trăm bốn mươi tám ngàn bảy trăm bốn mươi) đồng; Theo biên lai thu số 0030785 ngày 15/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 8. Thi hành tại cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
3. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
4. Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND TP. HCM; - VKSND KV 10 – TP. HCM; - THA DS TP. HCM; - Các đương sự; - Lưu VP, hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Cửu Thị Mẫn |