- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đặng Văn H - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đặng Văn H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 54 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BẾN CÁT TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 250/2023/HS-ST Ngày: 20 – 12 – 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BẾN CÁT – TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hồ Thị Hoa
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Thắm;
2. Bà Nguyễn Kim Lý.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thắm - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Thiện Đại - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 12 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương, Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 218/2023/HSST ngày 27 tháng 10 năm 2023, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 225/2023/HSST ngày 08 tháng 12 năm 2023, đối với bị cáo:
Đặng Văn H, sinh năm 2000 tại thành phố C; hộ khẩu thường trú: Ấp 5, xã Thới Hưng, huyện C, thành phố C1; chỗ ở: Ấp Kiến An, xã A, huyện D, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Kinh doanh; trình độ học vấn: 03/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Văn Th, sinh năm 1965 và bà Lê Thị Đ, sinh năm 1973; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú để điều tra cho đến nay; bị cáo có mặt.
Bị hại: Nguyễn Tuyết L, sinh năm 1963 (đã chết)
Người đại diện hợp pháp của bị hại:
Bà Nguyễn Thị Ngọc H, sinh năm 1984 (con ruột của bị hại). Vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Ông Trần Văn Tr, sinh năm 1981
Địa chỉ: Ấp Vĩnh Hội, xã Vĩnh Hội Đông, huyện A, tỉnh An Giang. Vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- Ông Trần Văn L, sinh năm 2000
Địa chỉ: Ấp Vĩnh Hội, xã Vĩnh Hội Đông, huyện A, tỉnh An Giang. Vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 17 giờ ngày 22/9/2019, Đặng Văn H đang ở nhà tại ấp Kiến An, xã An Lập, huyện D thì Trần Văn L điều khiển xe môtô biển số 67G1- 623.92 đến nhờ chở L đi sửa xe. H thấy L đã say rượu nên đồng ý và điều khiển xe môtô biển số 67G1- 623.92 chở Lợi đến tiệm sửa xe không tên gần Cầu Quan thuộc khu phố 1, phường Mỹ Phước, thị xã B để sửa xe. Sau khi sửa xe xong, H điều khiển xe chở L đi về nhà H. Khoảng 18 giờ 30 phút cùng ngày, khi về đến đoạn đường DT748 theo hướng từ vòng xoay An Điền đến xã An Lập, huyện D, thuộc ấp Kiến An, xã An Điền, thị xã B, H điều khiển xe chạy tốc độ cao, trong khi trời đang mưa và tối, H không quan sát thấy phía trước nên đã điều khiển xe đụng vào người bà Nguyễn Tuyết L, sinh năm 1963, địa chỉ thường trú: Ấp Kiến An, xã A, thị xã B, tỉnh Bình Dương đang đi bộ phía trước cùng chiều dưới lòng đường bên phải theo chiều xe lưu thông. Tai nạn xảy ra làm bà L bị thương nặng được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Bình Dương. Đến khoảng 22 giờ cùng ngày thì bà L tử vong.
Vật chứng thu giữ: 01 xe mô tô biển số 67G1- 623.92.
Theo Biên bản khám nghiệm hiện trường:
Đoạn đường nơi xảy ra tai nạn là đoạn đường thẳng, có dãy phân cách mềm, chia đoạn đường thành hai phần đường ngược chiều nhau. Mỗi phần đường rộng 3,2m, bằng phẳng, ướt mưa, tầm nhìn không bị che khuất.
Lấy trụ nhà hai đầu bạc nằm trong lề phải theo hướng từ vòng xoay An Điền đến xã An Lập làm điểm mốc và lấy mép lề đường bên phải theo hướng từ vòng xoay An Điền đến xã A làm lề chuẩn.
Vết cày xe môtô biển số 67G1- 623.92 nằm trên làn xe mô tô theo hướng từ vòng xoay An Điền đến An Lập dài 20,1m.
Xe môtô biển số 67G1- 623.92 ngã nghiêng bên trái trên làn đường mô tô; đầu xe chếch về lề phải.
Theo Biên bản khám nghiệm phương tiện: Dấu vết để lại trên xe môtô biển số 67G1- 623.92: gập vè trước về sau; bể đèn xi nhan trước phải, bể cánh bửng phải, xây xát đầu tay cầm trái, xây xát cánh bửng trái, ốp chân trước trái, ốp hông trái.
Theo Bản kết luận giám định pháp y tử thi ngày 26/9/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương, kết luận: Nguyên nhân chết của Nguyễn Tuyết L là do đa chấn thương, chấn thương sọ não, vỡ xương sọ, tụ máu nội sọ, xuất huyết dưới nhện, dập não.
Tại Cơ quan điều tra, Đặng Văn H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai phù hợp với các tài liệu chứng cứ thu thập được trong hồ sơ vụ án. H khai: Tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội, H không có giấy phép lái xe mô tô theo quy định; ngay trước khi gây tai nạn, H điều khiển xe với tốc độ khoảng 100 km/h.
Bản Cáo trạng số 231/CT – VKSBC ngày 27/10/2023, Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát truy tố bị cáo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Quá trình điều tra, truy tố bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại không có ý kiến hay khiếu nại gì về Kết quả khám nghiệm xác định hiện trường sau tai nạn, Kết luận giám định pháp y tử thi số 759/GĐPY ngày 26/9/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương và đồng ý với tội danh và Điều luật Viện kiểm sát truy tố.
Tại phiên toà, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương tham gia phiên toà phát biểu ý kiến: Giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Đặng Văn H về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Đại diện Viện Kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 260; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Đặng Văn H mức án từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù.
Về xử lý vật chứng: Xe mô tô biển số 67G1- 623.92 do ông Trần Văn Tr, sinh năm 1981, địa chỉ thường trú: Ấp Vĩnh Hội, xã V, huyện A, tỉnh An Giang đứng tên đăng ký. Ông Tr giao cho L sử dụng làm phương tiện đi lại. Ngày 26/11/2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Bến Cát xử lý vật chứng giao trả xe môtô biển số 67G1- 623.92 cho ông Tr.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Đặng Văn H và ông Trần Văn Tr là cha của Trần Văn L đã tự thỏa thuận, bồi thường xong chi phí mai táng cho đại diện gia đình nạn nhân là chị Nguyễn Thị Ngọc H, sinh năm 1984, địa chỉ thường trú: Ấp Kiến An, xã A, thị xã B, tỉnh Bình Dương. Chị H không yêu cầu giải quyết gì thêm.
Tại phiên tòa, bị cáo đồng ý đối với toàn bộ nội dung Bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo hưởng mức hình phạt thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Bến Cát, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tội danh: Tại phiên tòa, bị cáo Đặng Văn H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như bản Cáo trạng số 231/CT - VKSBC ngày 27/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát đã truy tố. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 22/9/2019, tại đoạn đường DT741 thuộc ấp Kiến An, xã A, thị xã B tỉnh Bình Dương, hành vi của Đặng Văn H khi không có giấy phép lái xe, đã có hành vi điều khiển xe môtô với tốc độ nhanh, không chú ý quan sát, dẫn đến va chạm vào bị hại đang đi bộ phía trước cùng chiều dưới lòng đường bên phải theo chiều xe mô tô lưu thông, làm bị hại bị thương nặng và tử vong sau đó.
Hành vi của bị cáo đã vi phạm quy định tại Điều 12 và Điều 8 Luật giao thông đường bộ năm 2008, gây hậu quả làm bị hại tử vong, xâm hại đến trật tự giao thông công cộng. Bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi của mình khi không có giấy phép lái xe, đã có hành vi điều khiển xe môtô với tốc độ nhanh, không chú ý quan sát là vi phạm pháp luật, có thể gây tai nạn nhưng bị cáo vẫn thực hiện với lỗi vô ý. Từ những nhận định nêu trên đủ cơ sở kết luận hành vi bị cáo thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, tội phạm và hình phạt quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Vì vậy Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật nêu trên là đúng người, đúng tội.
Về tình chất: Hành vi nêu trên của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã gây hậu quả nghiêm trọng xâm phạm tính mạng của bị hại nên cần có hình phạt tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi mà bị cáo đã gây ra. Do đó, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để bị cáo có thời gian lao động, học tập, rèn luyện tu dưỡng đạo đức của mình để trở thành người công dân tốt, có ích cho gia đình và xã hội khi quay lại hòa nhập với cộng đồng.
Về tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình; bồi thường thiệt hại cho bị hại, bị hại có đơn bãi nại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Xét bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 nên Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự năm 2015 để xử bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt nhằm thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
Về trách nhiệm dân sự: Người đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm; ông Trần Văn Tr tự nguyện cùng với bị cáo H lo chi phí mai táng cho gia đình bị hại, ông Tr không yêu cầu bị cáo H trả lại nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về xử lý vật chứng: Xe mô tô biển số 67G1- 623.92 do ông Trần Văn Tr đứng tên đăng ký. Ông Tr giao cho L sử dụng làm phương tiện đi lại. Ngày 26/11/2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Bến Cát xử lý vật chứng, giao trả xe môtô biển số 67G1- 623.92 cho ông Tr là phù hợp.
Đối với hành vi giao xe cho người không đủ điều kiện tham gia giao thông của Trần Văn L, do L không biết bị cáo H không có giấy phép lái xe nên Cơ quan điều tra Công an thị xã Bến Cát không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với L là có căn cứ.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, điều luật và mức hình phạt đối với bị cáo là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 260; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 và Điều 54 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tuyên bố bị cáo Đặng Văn H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Xử phạt bị cáo Đặng Văn H 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án.
2. Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng: Đã giải quyết xong.
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Bị cáo Đặng Văn H phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc Bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND T.Bình Dương; - VKSND T. Bình Dương; - VKSND thị xã Bến Cát; - Công an thị xã Bến Cát; - Chi cục THADS thị xã Bến Cát; - Bị cáo; đại diện hợp pháp của bị hại; - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án; - Lưu H.s; AV. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hồ Thị Hoa |