- Tranh chấp gì? án hình sự — "Giàng Thị T, Lò Văn H - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Bị cáo Giàng Thị T (Giàng Thị T1) phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy". Áp dụng Khoản 1 Điều 251; Điểm s Khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH ĐIỆN BIÊN ––––––––––––––– Bản án số: 250/2019/HS-ST Ngày: 20-11-2019 |
NHÂN DA
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN, TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Vũ Thị ThA Thủy
Các Hội thẩm nhân dân:Ông Lò Văn Thương.
Ông Lường Văn Hịa.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Hương, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Thành Đạt - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 11 năm 2019, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 256/2019/TLST-HS ngày 31 tháng 10 năm 2019, quyết định đưa vụ án ra xét xử số 253/2019/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 11 năm 2019 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Giàng Thị T, tên gọi khác: Giàng Thị T1; sinh năm 1984, tại Điện Biên; nơi cư trú: Bản T, xã N, huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: Không; dân tộc: Mông; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Giàng A C, sinh năm 1952 và con bà Mùa Thị R, sinh năm 1954; có chồng là Mùa A P, sinh năm 1980 và 02 con, lớn sinh năm 2002, nhỏ sinh năm 2012; tiền sự: Không; tiền án: Có 01 tiền án. Bản án số 101/2014/HSST ngày 15/4/2014 của Tòa án nhân dân huyện Điện Biên xử phạt 30 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1, khoản 5 Điều 194, điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999. Bị cáo được hoãn chấp hành hình phạt tù do nuôi con dưới 36 tháng tuổi. Ngày 28/12/2015 bị cáo chấp hành án phạt tù đến ngày 08/02/2018 được ra trại; nhân thân: Đã bị kết án, chưa bị xử phạt vi phạm hành chính; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/8/2019 đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên toà.
2. Họ và tên: Lò Văn H, tên gọi khác: Không; sinh năm 1966, tại Điện Biên; nơi cư trú: Tổ 2, thị trấn Đ, huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: 04/10; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lò Văn Ơ, đã chết và con bà Lò Thị B, đã chết; có vợ Lò Thị D, sinh năm 1972 (đã ly hôn) và 02 con, con lớn sinh năm 1992, con nhỏ sinh năm 1994; tiền sự: Không; tiền án: Không; nhân thân: Chưa bị kết án, chưa bị xử phạt vi phạm hành chính; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/8/2019 đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên toà.
Ngƣời bào chữa cho bị cáo Giàng Thị T: Bà Lê Thị D1 – Luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Điện Biên.
Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Cà Thị L, sinh năm 1967.
Địa chỉ: Bản P, xã H, huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên.
Ngƣời có nghĩa vụ liên quan: A Lò Văn A, sinh năm 1991;
Địa chỉ: Trung tâm xã M, huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên.
(Người bào chữa cho bị cáo T có mặt; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt; Người có nghĩa vụ liên quan vắng mặt không có lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, trA luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 18 giờ ngày 01/8/2019, Giàng Thị T đi bộ từ nhà ở Bản T, xã N, huyện Điện Biên đến khu vực đường thuộc đội 3, xã N, huyện Điện Biên gặp và mua được 01 gói Heroine, và 01 gói bên trong có 07 viên Methamphetamine của một người đàn ông dân tộc Mông khoảng 50 tuổi (không biết tên, địa chỉ) với giá 450.000 đồng, mục đích đem về để bán lại cho người khác kiếm lời. Sau khi mua được, T mở ra xem rồi gói lại như cũ và mang về nhà chia Methamphetamine thành 03 gói: trong đó, 01 gói được gói bằng nilon màu xA chứa 05 viên Methamphetamine; 01 gói được gói bằng nilon màu hồng chứa 01 viên Methamphetamine và 01 gói được gói bằng nilon màu trắng chứa 01 viên Methamphetamine. T chia số Heroine thành 03 gói gồm: 01 gói Heroine được gói bằng mảnh giấy báo có chữ; 01 gói Heroine được gói bằng nilon màu hồng và 01 gói Heroine được gói bằng nilon màu trắng, miệng các gói được xoắn lại. Sau khi chia xong, T dùng mảnh nilon màu xA và cho 02 gói loại gói chứa 01 viên Methamphetamine 01 gói Heroine được gói bên ngoài bằng nilon màu trắng gói lại rồi mang cất giấu ở giường ngủ của T. Còn lại 02 gói Heroine và 01 gói chứa 05 viên Methamphetamine, T gói chung lại thành 01 gói bên ngoài bằng nilon màu xA rồi cất giấu vào trong bao gạo để ở góc nhà của T.
Khoảng 10 giờ ngày 02/8/2019, Lò Văn H đi xe máy biển kiểm soát 27AA-042.41 từ bản Hát Hẹ, xã H đến Bản T, xã N, huyện Điện Biên tìm mua ma túy sử dụng. Trên đường đi, H gặp Lò Văn A là người cùng nghiện chất ma túy và rủ H cùng nhau góp tiền đi mua Heroine về để cùng sử dụng. H đồng ý và nói với A đến mua Heroine của Giàng Thị T nhà ở Bản T, xã N, huyện Điện Biên. Sau đó H đi xe máy đi trước còn A đi bộ theo sau, khi cách nhà T một đoạn thì H dừng xe và được A đưa cho 01 tờ tiền mệnh giá 50.000 đồng, H bảo A đứng đợi rồi H bỏ ra thêm 50.000 đồng đi đến nhà T gọi và hỏi mua 100.000 đồng Heroine. T đồng ý, nhận tiền H đưa cất vào túi quần bên phải đang mặc và đi vào góc nhà lấy từ trong bao gạo ra 01 gói Heroine gói bên ngoài bằng giấy báo có chữ dùng tay lấy một ít Heroine và xé mảnh giấy báo có chữ gói lại mang ra đưa cho H. Sau đó, H mang gói Heroine ra chỗ Lò Văn A đang đợi cách nhà T khoảng 20 mét (A không nhìn thấy việc H mua Heroine của T) dùng tay chia đều gói Heroine đã mua được thành hai phần rồi đưa cho Lò Văn A một phần. A nhận Heroine H đưa rồi cho vào xilA mang theo và sử dụng hết bằng hình thức chích. Hồi 10 giờ 30 phút ngày 02/8/2019, khi Lò Văn H đang cầm trên tay số Heroine còn lại chuẩn bị sử dụng bằng hình thức hít thì bị Tổ công tác Công an huyện Điện Biên phối hợp với Công an xã N phát hiện bắt quả tang, thu giữ trên tay phải Lò Văn H 01 gói Heroine khối lượng 0,11 (không phẩy mười một) gam được gói bên ngoài bằng mảnh giấy báo có chữ; Thu giữ tại tay phải Lò Văn A 01 chiếc xi lA đã qua sử dụng.
Hồi 14 giờ cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Điện Biên khám xét khẩn cấp người và chỗ ở đối với Giàng Thị T, qua khám xét đã phát hiện thu giữ: 01 gói bằng nilon màu xA ở giường ngủ của T, bên trong chứa: 01 viên Methamphetamine được gói bên ngoài bằng nilon màu xA, 01 viên Methamphetamine được gói bên ngoài bằng nilon màu hồng và 01 gói Heroine được gói bên ngoài bằng nilon màu trắng. Thu giữ tại bao gạo để ở góc nhà của Giàng Thị T 01 gói được gói bên ngoài băng nilon màu xA bên trong chứa: 01 gói Heroine được gói bên ngoài bằng giấy báo có chữ, 01 gói Heroine được gói bên ngoài bằng nilon màu hồng và 01 gói chứa 05 viên Methamphetamine được gói bên ngoài bằng nilon màu xA; thu giữ tại túi quần bên phải của Giàng Thị T đang mặc 100.000 đồng (gồm 02 tờ tiền mệnh giá 50.000 đồng). Tổng khối lượng Heroine thu giữ của Giàng Thị T là 1,66 (một phẩy sáu mươi sáu) gam và tổng khối lượng Methamphetamine thu giữ của T là 0,67 (không phẩy sáu mươi bảy) gam.
Tại phiên tòa các bị cáo Giàng Thị T, Lò Văn H đã khai nhận lại toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Mọi lời khai của các bị cáo hoàn toàn phù hợp với nội dung vụ án và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án như biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản mở niêm phong xác định khối lượng lấy mẫu giám định, kết luận giám định, kết luận điều tra....
Kết luận giám định số 827/GĐ-PC09 ngày 10/8/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận mẫu giám định: Mẫu chất bột màu trắng trích ra từ vật chứng thu giữ của Giàng Thị T (Giàng Thị T1) gửi giám định là chất ma túy: Loại heroine; Mẫu viên nén màu hồng trích ra từ vật chứng thu giữ của Giàng Thị T (Giàng Thị T1) gửi giám định là chất ma túy: Loại Methamphetamine; Khối lượng vật chứng thu giữ của Giàng Thị T (Giàng Thị T1) gồm 1,66 gam chất bột màu trắng và 0,67 gam viên nén màu hồng; Heroine nằm trong dA mục các chất ma túy, STT: 9, Mục IA, DA mục I, Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018; Methamphetamine nằm trong dA mục các chất ma túy, STT: 323, Mục IIC, DA mục II, Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018. Không hoàn lại đối tượng giám định.
Kết luận giám định số 828/GĐ-PC09 ngày 10/8/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận mẫu giám định: Mẫu chất bột màu trắng trích ra từ vật chứng thu giữ của Lò Văn H gửi giám định là chất ma túy: Loại heroine; Khối lượng vật chứng thu giữ của Lò Văn H là 0,11 gam; Heroine nằm trong dA mục các chất ma túy, STT: 9, Mục IA, DA mục I, Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018; Không hoàn lại đối tượng giám định.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo Giàng Thị T, Lò Văn H không khiếu nại về kết luận giám định.
Tại bản Cáo trạng số 251/CT- VKSĐB ngày 31/10/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên truy tố bị cáo Giàng Thị T (Giàng Thị T1) về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự, truy tố bị cáo Lò Văn H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo như đã nêu ở trên và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Căn cứ khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự, đề nghị xét xử bị cáo Giàng Thị T về tội: Mua bán trái phép chất ma túy, mức hình phạt từ 04 (bốn) năm tù 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù.
- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, đề nghị xét xử bị cáo Lò Văn H về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy, mức hình phạt từ 12 (mười hai) tháng tù đến 15 (mười năm) tháng tù.
- Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
- Xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, b, c khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, b, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự: Tịch thu tiêu hủy 1,66 gam Heroine, trích mẫu 0,14 gam gửi giám định, vật chứng còn lại 1,52 gam Heroine; 0,67 gam Methamphetamine, trích 0,2 gam gửi giám định, vật chứng còn lại 0,47 gam Methamphetamine; 0,11 gam Heroine (đã giử giám định toàn bộ không hoàn lại) là vật nhà Nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành; 01 xilA bằng nhựa đã qua sử dụng là vật không có giá trị sử dụng. Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 100.000 đồng do Giàng Thị T phạm tội mà có (đã thu); Chấp nhận biên bản về việc trả lại đồ vật, tài liệu của Công an huyện Điện Biên trả cho chủ sở hữu Cà Thị L 01 chiếc xe máy BKS 27A.042.41 vào ngày 04/10/2019.
- Án phí: Bị cáo Giàng Thị T là người dân tộc thiểu số sinh sống ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, căn cứ Điều 136 BLTTHS và điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016. Bị cáo T được miễn án phí Hình sự sơ thẩm. Căn cứ khoản 2 Điều 136/BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án bị cáo Lò Văn H chịu 200.000 đồng án phí HSST.
Người bào chữa cho bị cáo Giàng Thị T có mặt tại phiên tòa nhất trí với bản Cáo trạng của Viện kiểm sát, Quyết định đưa vụ án ra xét xử của Tòa án, Cáo trạng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, tuy nhiên bị cáo Giàng Thị T do chưa được xóa án tích nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: “Tái phạm”; mức hình phạt cho bị cáo đề nghị HĐXX xem xét áp dụng một mức án thấp nhất, hợp lý, hợp tình đúng pháp luật. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Bị cáo sống ở vùng kinh tế đặc biệt khó khăn nên đề nghị miễn án phí HSST cho bị cáo.
Bị cáo Giàng Thị T không bổ sung gì về lời bào chữa và hoàn toàn nhất trí với quan điểm truy tố và luận tội của Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, không có ý kiến gì trA luận.
Bị cáo Lò Văn H nhất trí với quyết định truy tố của Viện kiểm sát, không có ý kiến gì trA luận với bản luận tội của Kiểm sát viên.
Người có nghĩa vụ liên quan Lò Văn A đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do, lời khai của A đã thể hiện đầy đủ, rõ ràng trong hồ sơ vụ án và phù hợp với lời khai của các bị cáo.
Lời nói sau cùng của hai bị cáo trước khi HĐXX nghị án: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được trA tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Hành vi của các bị cáo được chứng minh như sau: Khoảng 18 giờ ngày 01/8/2019 Giàng Thị T đến khu vực đường thuộc Đội 3, xã N, huyện Điện Biên gặp và mua được 01 gói Heroine và 01 gói có chứa 07 viên Methamphetamine của một người đàn ông dân tộc Mông khoảng 50 tuổi (không biết tên, địa chỉ) với giá 450.000 đồng. Khoảng 10 giờ ngày 02/8/2019, Lò Văn H và Lò Văn A cùng là bạn nghiện chất ma túy rủ nhau góp tiền mua Heroine về cùng sử dụng. A đưa cho H 50.000 đồng, H bảo A đứng đợi, H vào nhà Giàng Thị T hỏi mua 100.000 đồng Heroine trong đó có 50.000 đồng của H và 50.000 đồng của A. Sau khi mua được Heroine H mang ra chỗ A đứng đợi, A đã sử dụng hết số Heroine H vừa mua hộ bằng hình thức chích, H chưa kịp sử dụng thì bị phát hiện bắt quả tang thu giữ toàn bộ vật chứng có khối lượng 0,11 gam Heroine và 01 chiếc xe lA đã qua sử dụng thu giữ của Lò Văn A. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Điện Biên khám xét nơi ở của Giàng Thị T thu giữ được 1,66 gam Heroine và 0,67 gam Methamphetamine cùng số tiền 100.000 đồng.
Giàng Thị T đã cất giấu hai chất ma túy khác nhau gồm 1,66 gam Heroine và 0,67 gam Methamphetamine để bán lại cho người khác kiếm lời, ngoài ra khối lượng 0,11 gam Heroine thu giữ của H là do T bán cho H nên T phải chịu trách nhiệm hình sự về tổng khối lượng Heroine thu giữ của T và H tổng là: 1,66 + 0,11 = 1,77 gam Heroine. Do vậy T phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Lò Văn H cất giấu, tàng trữ 0,11 gam Heroine để sử dụng cho bản thân nên H phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo qui định tại điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Cáo trạng truy tố các bị cáo là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
. Về tính chất, mức độ gây nguy hiểm cho xã hội thấy rằng: Hành vi đó là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy. Các bị cáo đã tiếp tay cho những người khác chuyên buôn bán các chất ma túy ngày càng phát triển, là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác, làm ảnh hưởng tới trật tự trị an, an toàn trong xã hội trên địa bàn huyện Điện Biên nói riêng cũng như địa bàn tỉnh Điện Biên nói chung. Các bị cáo phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, hành vi phạm tội của các bị cáo là nghiêm trọng. Khi thực hiện hành vi phạm tội các bị cáo có đầy đủ năng lực để chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội của mình gây ra. Nên các bị cáo phải bị xử lý nghiêm minh trước pháp luật.
. Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Lò Văn H học hết lớp 4/10. Năm 1991 kết hôn và sinh được 02 người con. Nghiện chất ma túy từ năm 2018 đến nay. Bị cáo chưa có tiền án tiền sự. Bị cáo không có tình tiết nào tặng nặng. Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo Giàng Thị T bản thân không được đi học, năm 2001 kết hôn với Mùa A P, chuyển đến sinh sống ở Núa Ngam và có 01 người con chung. Năm 2011 chung sống như vợ chồng với Vì Văn Yên và sinh được 01 người con. Bản án số 101/2014/HSST ngày 15/4/2014 của Tòa án nhân dân huyện Điện Biên xử phạt 30 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1, khoản 5 Điều 194, điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999. Bị cáo được hoãn chấp hành hình phạt tù do nuôi con dưới 36 tháng tuổi. Ngày 28/12/2015 bị cáo chấp hành án phạt tù đến ngày 08/02/2018 được ra trại, bị cáo chưa được xóa án tích lại phạm tội mới do cố ý nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: “Tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Tại Cơ quan điều tra cũng như phiên tòa Giàng Thị T đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Từ những phân tích nêu trên Hội đồng xét xử xét thấy cần phải có một hình phạt nghiêm khắc đối với các bị cáo, cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo thành người công dân có ích cho gia đình và xã hội.
. Về hành vi của các bị cáo bị truy tố và các quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng huyện Điện Biên và những người có thẩm quyền tiến hành tố tụng như: Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục tố tụng đã được quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến gì, không khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính các bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung bằng hình thức phạt tiền, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, song xét hoàn cảnh gia đình các bị cáo khó khăn, không có nghề nghiệp ổn định, bản thân bị cáo H là người nghiện ma túy, còn bị cáo T chồng bị cáo đang phải chấp hành án tại Trại giam Yên Hạ, Bộ Công an. Do vậy HĐXX không áp dụng các hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
. Bị cáo Giàng Thị T khai nguồn gốc Heroine bị cáo mua của một người đàn ông dân tộc Mông khoảng 50 tuổi, bị cáo không biết tên và địa chỉ nên cơ quan điều tra không có cơ sở điều tra làm rõ. Hội đồng xét xử không đặt vấn đề xử lý.
. Lò Văn A là người đã góp tiền với Lò Văn H để H mua Heroine của T rồi chia nhau sử dụng cho bản thân, A đã sử dụng hết. Công an huyện Điện Biên đã xử phạt vi phạm hành chính đối với Lò Văn A theo Quyết định số 123 ngày 07/10/2019 với hình thức phạt tiền: 500.000 đồng.
. Về vật chứng vụ án: Căn cứ điểm a, b, c khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, b, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự: Tịch thu tiêu hủy 1,66 gam Heroine, trích mẫu 0,14 gam gửi giám định, vật chứng còn lại 1,52 gam Heroine; 0,67 gam Methamphetamine, trích 0,2 gam gửi giám định, vật chứng còn lại 0,47 gam Methamphetamine; 0,11 gam Heroine (đã giử giám định toàn bộ không hoàn lại) là vật nhà Nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành. 01 xilA bằng nhựa đã qua sử dụng là vật không có giá trị sử dụng. Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 100.000 đồng do Giàng Thị T phạm tội mà có (đã thu); Chiếc xe mô tô biển kiểm soát 27A – 042.41 H mượn của Cà Thị L, trú tại: Bản P, xã H, huyện Điện Biên để đi mua ma túy về sử dụng. Bà Cà Thị L đã được Tòa án triệu tập và có mặt tại phiên tòa, trong quá trình điều tra, xét xử bà Lả đều khẳng định không biết việc H mượn xe đi mua ma túy, H chỉ hỏi mượn xe đi công việc nên mới đồng ý cho mượn. Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe mô tô trên cho bà Cà Thị L vào ngày 04/10/2019, bà Lả không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm và không có ý kiến gì khác. HĐXX xét thấy là phù hợp và được chấp nhận.
. Án phí: Bị cáo Giàng Thị T là người dân tộc thiểu số sinh sống ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, căn cứ Điều 136 BLTTHS và điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016. Bị cáo T được miễn án phí Hình sự sơ thẩm. Căn cứ khoản 2 Điều 136/BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án bị cáo Lò Văn H chịu 200.000 đồng án phí HSST.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố:
- Bị cáo Giàng Thị T (Giàng Thị T1) phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy". Áp dụng Khoản 1 Điều 251; Điểm s Khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
- Bị cáo Lò Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c Khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
2. Xử phạt bị cáo Giàng Thị T 04 (bốn) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 02/8/2019.
- Xử phạt bị cáo Lò Văn H 01 (một) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 02/8/2019.
3. Vật chứng: Căn cứ điểm a, b, c khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, b, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy 1,66 gam Heroine, trích mẫu 0,14 gam gửi giám định, vật chứng còn lại 1,52 gam Heroine; 0,67 gam Methamphetamine, trích 0,2 gam gửi giám định, vật chứng còn lại 0,47 gam Methamphetamine; 0,11 gam Heroine (đã gửi giám định toàn bộ không hoàn lại) là vật nhà Nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành; 01 xilA bằng nhựa đã qua sử dụng.
- Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 100.000 đồng do Giàng Thị T phạm tội mà có (đã thu);
- Chấp nhận biên bản về việc trả lại đồ vật, tài liệu của Công an huyện Điện Biên trả cho chủ sở hữu Cà Thị L 01 chiếc xe máy BKS 27A.042.41 vào ngày 04/10/2019.
(Toàn bộ vật chứng của vụ án đã được cơ quan Điều tra Công an huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên chuyển giao cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên theo biên bản bản giao nhận vật chứng ngày 18/11/2019).
4. Án phí: Bị cáo Giàng Thị T là người dân tộc thiểu số sinh sống ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, căn cứ Điều 136 BLTTHS và điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016. Bị cáo T được miễn án phí Hình sự sơ thẩm. Căn cứ khoản 2 Điều 136/BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án bị cáo Lò Văn H chịu 200.000 đồng án phí HSST.
5. Quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án 20/11/2019. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án 20/11/2019./.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Điện Biên; - VKSND huyện Điện Biên - Bộ phận HSNV Công an huyện Điện Biên - Nhà tạm giữ, tạm giam CA huyện Điện Biên - Trại giam - Cơ quan THA. HS Công an huyện Điện Biên - Thi hành án Dân sự huyện Điện Biên - Các bị cáo; - Người có QL, NVLQ - Phòng KTNV và THA – TAND tỉnh Điện Biên - Sở Tư pháp tỉnh Điện Biên; - L u hå THA – HS - Lưu hồ sơ vụ án HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM HỘI THẨM NHÂN DÂN Lò Văn Thƣơng | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Thị ThA Thủy THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ HỘI THẨM NHÂN DÂN Vũ Thị ThA Thủy Lƣờng Văn Hịa |