vanban.org

Bản án 25

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh và điều luật áp dụng: Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Hoàng Văn T 5 (năm) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 24/10/2025. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo Hoàng Văn T. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Hoàng Văn T - tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh và điều luật áp dụng: Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 2 – CAO BẰNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: /2026/HS-ST
Ngày: 31-3-2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - CAO BẰNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Vũ Hoàng

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bế Văn Hạnh và bà Hoàng Thị Gấm

- Thư ký phiên tòa: Bà Lục Thu Hồng - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 2

- Cao Bằng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Cao Bằng tham gia phiên tòa: Bế Thanh Tuyền - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 3 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 2 - Cao Bằng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 12/2026/TLST- HS ngày 04/01/2026; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 31/2026/QĐXXST- HS ngày 18 tháng 3 năm 2026 đối với bị cáo:

Hoàng Văn T, tên gọi khác: Không, sinh ngày 26/10/1994 tại xã P, tỉnh Cao Bằng; nơi ĐKHKTT và nơi cư trú: Tổ dân phố A, xã P, tỉnh Cao Bằng (Nay là xóm H, xã P) tỉnh Cao Bằng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 07/12; dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Văn T1 và bà Nông Thị X; có vợ là Trần Thị D; Bị cáo chưa có con.

Tiền án: 02 tiền án

- Ngày 24/10/2013, Hoàng Văn T bị Tòa án nhân dân huyện Phục Hòa, tỉnh Cao Bằng xử phạt 09 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy.

- Ngày 17/3/2022 Toà án nhân dân huyện Quảng Hoà, tỉnh Cao Bằng xử phạt 04 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy, nay chưa được xóa án tích.

Tiền sự: Không có.

Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Phân Trại tạm giam Q, Công an tỉnh C từ ngày 24/10/2025 đến nay.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm t t như sau:

Khoảng 18 giờ 15 phút ngày 24/10/2025 Công an xã P, tỉnh Cao Bằng phối hợp cùng Tổ công tác số 2 - Công an tỉnh C, Hải quan cửa khẩu T2 và Đồn Biên phòng cửa khẩu quốc tế T2 đang làm nhiệm vụ tại khu vực tổ dân phố D1 (nay là xóm P), xã P, tỉnh Cao Bằng phát hiện Hoàng Văn T, sinh năm 1994, trú tại xóm H, xã P, tỉnh Cao Bằng có biểu hiện nghi vấn nên đã yêu cầu kiểm tra. Quá trình kiểm tra phát hiện và thu giữ tại túi áo ngực bên trong 01(một) gói giấy bạc màu tr ng, bên trong gói giấy bạc màu tr ng có chứa cục, bột màu tr ng nghi là Heroine; Hoàng Văn T tự nguyện giao nộp 01 (gói) giấy bạc màu tr ng bên trong có chứa cục, bột màu tr ng để trong chiếc xe ô tô biển kiểm soát 98A-801.92, Hoàng Văn T khai nhận số cục, bột màu tr ng đó là Heroine của T mua với một người đàn ông (không rõ nhân thân, lai lịch cụ thể) tại phường H, tỉnh B c Giang (cũ) với giá 200.000 đồng. Tổ công tác đã lập biên bản b t người phạm tội quả tang theo quy định của pháp luật. Vật chứng thu giữ gồm: 02(hai) gói giấy bạc màu tr ng nghi là Heroine; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Pro Max; 01(một) xe ô tô nhãn hiệu MG, biển kiểm soát 98A-801.92 xe cũ đã qua sử dụng

Ngày 24/10/2025 các cơ quan chức năng tiến hành cân xác định khối lượng số chất bột màu tr ng (nghi là Heroine) thu giữ được của Hoàng Văn T, kết quả: Gói thứ nhất có khối lượng tịnh là 0,05 gam, gói thứ hai có khối lượng tịnh là 0,13 gam. Tổng khối lượng của cả 02 gói là 0,18 gam. Sau khi cân khối lượng, Cơ quan điều tra đã tiến hành gửi toàn bộ vật chứng để giám định.

Tại bản Kết luận giám định số 530/KL-KTHS ngày 01/11/2025 của Phòng K Công an tỉnh C kết luận:

- 02 (hai) mẫu chất bột màu tr ng bên trong phong bì niêm phong gửi giám định đều là ma túy, loại: Heroine.

Các cục, bột màu tr ng trong phong bì niêm phong gửi giám giám định có khối lượng Mẫu 1; 0,05g (không phẩy không năm gam); Mẫu 2: 0,13g(không phẩy một ba gam).

Ngày 25/10/2025 cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh C thi hành lệnh khám xét khẩn cấp tại chỗ ở của Hoàng Văn T. Kết quả không thu giữ được đồ vật gì liên quan đến ma tuý.

Tại bản cáo trạng số 35/CT-VKSKV2-Cao Bằng ngày 03/02/2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – Cao Bằng đã truy tố bị cáo Hoàng Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa: Bị cáo Hoàng Văn T thừa nhận nội dung bản Cáo trạng phản ánh đúng các hành vi của mình. Bị cáo biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – Cao Bằng sau khi phân tích nội dung vụ án, đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội vẫn giữ nguyên cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Hoàng Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” áp dụng điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự để xử phạt bị cáo Hoàng Văn T với mức án từ 05 đến 06 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị b t tạm giữ, tạm giam 24/10/2025.

Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy đã thu giữ của bị cáo; trả lại cho bị cáo 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, loại 14 Pro Max màu tím của Hoàng Văn T.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Bị cáo nhất trí với kết luận của đại diện Viện kiểm sát nhân Khu vực 2-Cao Bằng, không có ý kiến tranh luận. Khi được nói lời sau cùng, bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất để bị cáo sớm trở về với gia đình, làm người có ích cho gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an khu vực B – Cao Bằng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – Cao Bằng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025). Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về các yếu tố cấu thành tội phạm: Xét lời khai của bị cáo Hoàng Văn T tại phiên tòa thống nhất với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án; căn cứ kết luận giám định của Phòng K - Công an tỉnh C, Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 18 giờ 15 phút ngày 24/10/2025 Tổ công tác liên ngành kiểm tra phát hiện và thu giữ tại túi áo ngực bên trong 01(một) gói giấy bạc màu tr ng, bên trong gói giấy bạc màu tr ng có chứa cục, bột màu tr ng nghi là Heroine; Hoàng Văn T tự nguyện giao nộp 01 (gói) giấy bạc màu tr ng bên trong có chứa cục, bột màu tr ng để trong chiếc xe ô tô biển kiểm soát 98A-801.92, Ngày 24/10/2025 các cơ quan chức năng tiến hành cân xác định khối lượng số chất bột màu tr ng (nghi là Heroine) thu giữ được của Hoàng Văn T, kết quả: Gói thứ nhất có khối lượng tịnh là 0,05 gam, gói thứ hai có khối lượng tịnh là 0,13 gam. Tổng khối lượng của cả 02 gói là 0,18 gam. Sau khi cân khối lượng, Cơ quan điều tra đã tiến hành gửi toàn bộ vật chứng để giám định.

Tại bản Kết luận giám định số 530/KL-KTHS ngày 01/11/2025 của Phòng K Công an tỉnh C kết luận: 02 (hai) mẫu chất bột màu tr ng bên trong phong bì niêm phong gửi giám định đều là ma túy, loại: Heroine.

Bị cáo Hoàng Văn T có hai tiền án vào năm 2013 và năm 2022 về các tội Mua bán trái phép chất ma túy chưa được xóa án tích, do đó phạm tội lần này thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm - là tình tiết định khung tăng nặng quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình theo bản Cáo trạng và lời luận tội của Viện kiểm sát, do đó Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận Hoàng Văn T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – Cao Bằng truy tố và kết luận về hành vi phạm tội của bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo:

Bị cáo Hoàng Văn T là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức được đây là hành vi gây nguy hiểm cho xã hội, không những trực tiếp xâm hại tới chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy mà còn làm gia tăng tệ nạn nghiện hút trong xã hội, gây tác hại cho sức khoẻ người sử dụng, nhân cách con người, phá hoại hạnh phúc gia đình và gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự, an toàn xã hội, là nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm và hành vi vi phạm pháp luật khác nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện; Đại diện Viện kiểm sát đề nghị mức án từ 5 đến 6 năm tù là có căn cứ, cần chấp nhận. Do vậy, cần phải xử phạt nghiêm kh c nhằm giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa chung trong nhân dân.

Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:

+ Bị cáo Hoàng Văn T có hai tiền án vào năm 2013 và năm 2022 về các tội Mua bán trái phép chất ma túy chưa được xóa án tích, bị cáo là người nghiện ma túy.

+ Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

+ Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Theo khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên toà thấy bị cáo không có nghề nghiệp nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Đối với người đàn ông khoảng 40 tuổi đã bán ma túy cho bị cáo: T khai không không biết rõ tên tuổi, địa chỉ, cơ quan điều tra đã truy tìm nhưng không xác định được. Do vậy, cơ quan điều tra không có căn cứ xác minh, xử lý là có cơ sở. Đối với tài khoản zalo “Điệp Hứa M” có nh n tin vào tài khoản zalo của T có nội dung “Em lấy 500 anh ơi”, T khai nhận không quen biết người sử dụng tài khoản này không liên quan đến hành vi phạm tội của Hoàng Văn T. Do T không biết họ tên, địa chỉ người sử dụng tài khoản Zalo trên nên cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh C không có căn cứ mở rộng điều tra vụ án.

Về xử lý vật chứng:

- Cơ quan điều tra đã thu giữ 0,18 gam ma tuý loại heroine - đây là chất độc hại, Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành nên cần tịch thu tiêu huỷ.

- Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, loại 14 Pro Max màu tím. Trong điện thoại có 02 (sim) có số thuê bao lần lượt là: 0395505994; 0978202194 qua điều tra xác định là điện thoại của Hoàng Văn T, không liên quan đến hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, nên trả lại cho bị cáo.

- Đối với 01 chiếc xe ô tô nhãn hiệu MG5 màu tr ng g n biển kiểm soát 98A-801.92.

Số

khung:

MMLA36U38RG021885;

Số

máy: 15S4C5QTR7090006. Xe cũ đã qua sử dụng. Quá trình điều tra, có căn cứ xác định được chủ phương tiện xe ô tô là cá nhân kinh doanh dịch vụ cho thuê xe tự lái. Chủ sở hữu phương tiện hoàn toàn không biết việc Hoàng Văn T tàng trữ trái phép chất ma túy trên xe ô tô vào ngày 24/10/2025. Căn cứ vào đơn xin trả lại tài sản của chủ phương tiện là Chu Văn Đ, sinh năm 2000, trú tại: Thôn N, xã T, tỉnh B c Ninh. Ngày 23/10/2025, Đ cho Hoàng Văn V, sinh năm 1999, trú tại: xóm C, xã P, tỉnh Cao Bằng thuê chiếc xe trên. Sau đó, V cho T mượn xe ô tô để về nhà làm thủ tục đăng ký kết hôn. Quá trình điều tra xác định được Đ và V không biết việc T thực hiện hành vi phạm tội và không được hưởng lợi gì nên cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại xe ô tô trên cho Chu Văn Đ là có căn cứ cần được chấp nhận.

Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo Hoàng Văn T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh và điều luật áp dụng: Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Áp dụng điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi bổ sung năm 2025).

Xử phạt: Hoàng Văn T 5 (năm) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 24/10/2025.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo Hoàng Văn T.

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025); Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025).

- Tịch thu, tiêu hủy 01 (một) phong bì niêm phong, mặt trước phong bì ghi: "Số 530/KL- KTHS Hoàng Văn T Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy", mặt sau có chữ ký của thành phần tham gia niêm phong và đóng hình dấu tròn đỏ giáp lai của phòng K Công an tỉnh C.

- Tịch thu, tiêu hủy 01 (một) phong bì niêm phong, mặt trước phong bì ghi: "Giấy gói và phong bì niêm phong ban đầu thu giữ của Hoàng Văn T ngày 24/10/2025", mặt sau có chữ ký của thành phần tham gia niêm phong và đóng hình dấu tròn đỏ giáp lai của cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh C.

- Trả lại bị cáo Hoàng Văn T 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, loại 14 Pro Max màu tím. Trong điện thoại có 02 (sim) có số thuê bao lần lượt là: 0395505994; 0978202194

Các vật chứng trên hiện đang bảo quản tại Phòng thi hành án dân sự khu vực 2- Cao Bằng theo Biên bản giao nhận vật chứng số 27 ngày 11/02/2026 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh C với Phòng thi hành án dân sự khu vực 2- Cao Bằng.

4. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: Bị cáo Hoàng Văn T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

6. Về quyền kháng cáo: Áp dụng các Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025). Án xử công khai sơ thẩm. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án./. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bế Văn Hạnh Hoàng Thị G

Phan Vũ Hoàng

Cỡ chữ