vanban.org

Bản án 25/HNGĐ — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Đặng Thị Tường V.

Chị Đặng Thị Tường V được ly hôn với anh Đoàn Anh D. Về con chung: Giao 02 cháu Đặng Thanh Th, sinh ngày 05-9-2016 và Đoàn Thiện T, sinh ngày 23-01-2019 cho chị Đặng Thị Tường V trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Ghi nhận chị V không yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi con.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Đặng thị Tường Vi - Đoàn Anh Duy"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Đặng Thị Tường V.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ TÂY NINH
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:25/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 15-6-2022.
V/v:“Tranh chấp ly hôn, nuôi
con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂY NINH, TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Thanh Hùng.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Lưu Thị Thu;

2. Ông Trần Hoài D.

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Hồng Tâm - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Vện kiểm sát nhân dân thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Khánh Bình - Kiểm sát Vên.

Ngày 15 tháng 6 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 11/2022/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 02 năm 2022 về “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 72A/2022/QĐXX - ST ngày 10 tháng 5 năm 2022 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Đặng Thị Tường V, sinh năm: 1995; Địa chỉ: khu phố GiH, phường TrB, thị xã TrB, tỉnh TN; có mặt.

Bị đơn: Anh Đoàn Anh D, sinh năm 1991; Địa chỉ: khu phố NPh, phường NS, thành phố TN, tỉnh TN; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Về quan hệ hôn nhân nguyên đơn chị Đặng Thị Tường V trình bày: Chị và anh D kết hôn năm 2015 có đăng ký kết hôn tại UBND xã GiL, thị xã TrB ngày 28-6-2017. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, sau đó phát sinh mâu thuẫn do không hòa hợp tính tình, anh D có quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác, kiếm chuyện gây gỗ cải nhau, nhều lần xúc phạm đánh đập chị, lần gần nhất tháng 7-2021 và đã ly thân từ đó cho đến nay, không có giải pháp khắc phục nên chị xin ly hôn với anh D.

Về con chung: có 02 cháu tên Đặng Thanh Th, sinh ngày 05-9-2016 và Đoàn Thiện T, sinh ngày 23-01-2019. Thời gian ly thân các con sống với chị nên chị xin được nuôi con không yêu cầu anh D cấp dưỡng.

Về tài sản chung: Chị không yêu cầu giải quyết.

Về nợ chung: Chị V trình bày không có.

Đối với anh Đoàn Anh D: Từ sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành các thủ tục tống đạt hợp lệ. Tuy nhiên, anh D vắng mặt không đến để trình bày ý kiến cũng như không tham gia phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ, cũng như không tham gia phiên hòa giải và xét xử.

Ý kiến của vị đại diện Vện Kiểm sát nhân dân thành phố Tây Ninh tham gia phiên tòa về Vệc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán và Hội đồng xét xử (HĐXX): Thẩm phán thụ lý giải quyết đúng thẩm quyền, Vệc thu thập chứng cứ, chuẩn bị xét xử và ra quyết định đưa vụ án ra xét xử đều đảm bảo đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng trình tự, thủ tục đối với phiên tòa dân sự.

Vệc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Nguyên đơn chấp hành và thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt nên HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt là đúng theo quy định của pháp luật.

Đại diện Vện kiểm sát nhân dân thành phố Tây Ninh chưa thấy vấn đề V phạm tố tụng nên đề nghị Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử theo quy định.

Về nội dung vụ án: Đề nghị HĐXX áp dụng Điều 51, 56, Điều 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Đặng Thị Tường V, cho chị V được ly hôn với anh D. Về con chung giao cho chị V nuôi. Ghi nhận chị V không yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi con. Tài sản chung không yêu cầu và nợ chung không có nên không xem xét giải quyết. Chị V phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án do các bên cung cấp, qua hòa giải và kết quả thẩm tra các chứng cứ tại phiên tòa, lời trình bày của đương sự, ý kiến của kiểm sát Vên, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Anh Đoàn Anh D đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt anh D.

Về quan hệ hôn nhân: Trên cơ sở tự nguyện và đi đến hôn nhân từ năm 2015, có đăng ký kết hôn tại UBND UBND xã GL, thị xã TrB ngày 28-6-2017 nên hôn nhân của chị V, anh D là hợp pháp, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Chị V trình bày mâu thuẫn phát sinh là do bất đồng quan điểm sống, anh D thường xuyên kiếm chuyện gây gỗ đánh chị và có quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác nên chị vẫn cương quyết xin ly hôn.

Đối với anh D đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng không đến và cũng không có ý kiến trình bày xem như đương sự tự từ bỏ quyền lợi của mình.

Qua xác minh được biết, trong thời gian thực hiện giãn cách xã hội, anh D và chị V về nhà mẹ anh D ở NS để tránh dịch thì vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, anh D đã đánh đập chị V rất thô bạo. Ngoài ra anh D còn có quan hệ tình cảm với nhiều người phụ nữ khác và cả hai đã ly thân từ tháng 07 -2021 cho đến nay nhưng không có giải pháp khắc phục.

Hội đồng xét xử xét thấy, mâu thuẫn giữa chị V và anh D đã thật sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt. Do đó nên chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị V.

Về con chung: Chị Đặng Thị Tường V xác định chị và anh D có 02 con chung tên Đặng Thanh Th, sinh ngày 05-9-2016 và Đoàn Thiện T, sinh ngày 23-01-2019. Thời gian ly thân các con sống với chị nên chị xin được nuôi con không yêu cầu anh D cấp dưỡng. Hội đồng xét xử xét thấy, từ ngày ly thân 02 cháu Thiện và Tâm sống với chị V nên giao cho chị nuôi là phù hợp, chị V không yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi con nên ghi nhận.

Về tài sản chung: Chị Đặng Thị Tường V không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

Về nợ chung: Chị Đặng Thị Tường V xác định không có nên không xem xét giải quyết.

Về án phí: Chị Đặng Thị Tường V phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Đề nghị của Vện kiểm sát nhân dân thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh phù hợp với nhận định của HĐXX nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 51, 56, Điều 81, 82 và 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Đặng Thị Tường V.

Chị Đặng Thị Tường V được ly hôn với anh Đoàn Anh D.

2. Về con chung: Giao 02 cháu Đặng Thanh Th, sinh ngày 05-9-2016 và Đoàn Thiện T, sinh ngày 23-01-2019 cho chị Đặng Thị Tường V trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Ghi nhận chị V không yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi con.

Anh D có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về tài sản chung: Chị Đặng Thị Tường V không yêu cầu giải quyết.

4. Về nợ chung: Chị Đặng Thị Tường V xác định không có nên không xem xét giải quyết.

5. Về án phí: Chị Đặng Thị Tường V phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm Hôn nhân và gia đình, khấu trừ tiền tạm ứng án phí chị V đã nộp 300.000 đồng theo biên lai số 0000797 ngày 17 tháng 02 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh.

Anh Đoàn Anh D không phải chịu án phí.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Đương sự có mặt có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỦ

Cỡ chữ