vanban.org

Bản án 25/2026/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 8 - Hà Nội, TP. Hà Nội Tuyên án 27/01/2026 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt: Bị cáo Lương Thị T 06 (Sáu) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 26/7/2025.

Tịch thu tiêu hủy 03 bao gói chứa ma tuý, sau khi giám định đã được Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hà Nội niêm phong. Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone XS màu đen đã cũ của Lương Thị T và 01 thẻ sim lắp trong máy Iphone XS sử dụng làm phương tiện để mua ma túy. Trả … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "LTT - Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015…"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt: Bị cáo Lương Thị T 06 (Sáu) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 26/7/2025.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 8 – HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 25/2026/HS-ST
Ngày: 27/01/2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN KHU VỰC 8 - HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Xuân Tuân

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Xuân Trường

Bà Bùi Thị Bích Phượng

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọt - Thẩm tra viên chính Tòa án nhân dân Khu vực 8 - Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 8 - Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Ngô Anh Hoàng - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 8 - Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 161/2025/TLST-HS ngày 30 tháng 12 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 13/2026/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 01 năm 2026, đối với:

- Bị cáo: Lương Thị T, sinh năm 1994; tại thành phố Hà Nội; HKTT và nơi cư trú: Thôn X, xã S, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt N; con ông Lương Văn Nh và bà Nguyễn Thị Th; có chồng (đã ly hôn) và có 02 con, con lớn sinh năm 2021 con nhỏ sinh năm 2022; tiền án, tiền sự: Không; danh bản, chỉ bản số 3529 lập ngày 15/8/2025 của Công an thành phố Hà Nội; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/7/2025 đến nay; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do có nhu cầu sử dụng ma túy, khoảng 19 giờ 00 phút ngày 25/7/2025, Lương Thị T có sử dụng điện thoại di động nhãn hiện Iphone Xsmax liên hệ với một đối tượng (đã xóa không nhớ tên) trên mạng xã hộ Telegram nhắn tin thỏa thuận mua ma túy với giá 5.000.000 đồng gồm ma túy đá và hồng phiến chuyển về địa chỉ số 185 thôn 4, xã S, thành phố Hà Nội khi nhận được ma túy T sẽ trả tiền mặt cho người ship. Khoảng 20 giờ cùng ngày, T đang ở trong cửa hàng thì có một người gọi cửa, T mở cửa thì thấy có một N giới đi xe máy đeo khẩu trang, mặc quần áo tối màu đưa cho túi nilong dán kín. T hiểu đấy là ma túy nên nhận túi ni lông màu đến và đưa cho N giới 5.000.000 đồng, sau đó T vào nhà mở túi ni lông ra kiểm tra thì thấy bên trong có ma túy đá và ma túy viên nén màu hồng (hồng phiến), T giấu ma túy vào loa để sử dụng dần. Đến khoảng 01 giờ 00 phút ngày 26/7/2025, T gọi điện cho Ngô Doãn N (sinh năm 1982), có số điện thoại 0981254444 bảo N xuống nhà T chơi. Khoảng 02 giờ 00 phút, N đến ngồi trên ghế xem điện thoại còn T dọn dẹp nhà. Khoảng một lúc sau T tự lấy túi giấy bạc màu trắng cùng các viên nén màu hồng và tinh thể màu trắng là ma túy đá, hồng phiến mang ra để sử dụng. Khi T đang chuẩn bị sử dụng ma túy thì bị Công an xã S đến kiểm tra nên T cất giấu vào túi quần bên trái đang mặc. Khi cơ quan công an kiểm tra T lấy ma túy từ bên trong túi quần dài màu đen, bên trái đang mặc và tự nguyện giao nộp. Cơ quan điều tra tiến hành tạm giữ, niêm phong vật chứng đồng thời đưa T và N về trụ sở để xác minh làm rõ.

Quá trình kiểm tra, Cơ quan công an đã và thu giữ:

- 01 gói giấy bạc màu trắng, bên trong chứa tinh thể màu trắng và 02 viên nén màu hồng.

- 04 gói nilong màu trắng bên trong có chứa các viên nén màu hồng trên bề mặt có chữ “WY”.

- 01 gói nilong màu trắng kích thước khoảng 03x05cm bên trong chứa các tinh thể màu trắng.

- 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 16 Promax màu vàng, dung lượng 256Gb có số IMEI1: 357583475060269, imel 2: 357583475085282 bên trong lắp sim số 0898253208.

- 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone XS màu đen, dung lượng 64GB số IMEI: 35723909458666, IMEL2: 357239095042175 bên trong lắp sim số 0978171194.

Tại bản Kết luận giám định số 4466/KL-KTHS, ngày 04/8/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hà Nội, kết luận:

*Niêm phong ký hiệu M1 gồm 01 gói giấy bạc bên trong chứa:

- Tinh thể màu trắng là ma túy loại Methamphetamine, có khối lượng 0,217 gam

- 02 viên nén màu hồng đều là ma túy loại Methamphetamine, có khối lượng 0.170 gam

* Niêm phong ký hiệu M2 gồm:

- Các viên nén màu hồng trên bề mặt có chữ “WY” bên trong 04 gói nilong đều là ma túy loại Methamphetamine, có khối lượng 7.844 gam

* Niêm phong ký hiệu M3 gồm:

- Tinh thể màu trắng bên trong là 01 túi nilong là loại ma túy Methamphetamine, có khối lượng 6.262 gam.

Tổng khối lượng là 14.493 gam ma túy loại Methamphetamine.

Quá trình điều tra đã xác định: Khoảng chiều ngày 23/7/2025, Trần Hải Q (sinh năm 1982; trú tại khu tập thể C, phường T, thành phố Hà Nội) đến cửa hàng của T nhưng T không có ở cửa hàng, Q có chìa khóa nên mở cửa mang vào 01 valy màu đen, 01 balo màu đen, 01 hộp nhựa hình hộp chữ nhật màu đến rồi khóa cửa đi về. Khoảng 20 phút sau T về thấy có các đồ Q mang đến. Đến khoảng hơn 20 giờ ngày 25/7/2025, Q sử dụng số điện thoại lạ gọi vào số 0978171194 của T bảo đi theo Q và bảo những đồ mang đến nhà T có cái loa thì ném đi. Sau đó T kiểm tra cái loa màu đen thì thấy bên trong có 02 gói ma túy đá và ngựa. T giữ lại để sử dụng. Đến ngày 19/11/2025, T thay đổi lời khai và khai nhận nguồn gốc số ma túy do T mua trên mạng xã hội Telegram.

Cơ quan điều tra đã tiến hành ghi nhận lời khai của Trần Hải Q, Q khai nhận: Q có quan hệ tình cảm với Lương Thị T, vào ngày 23/7/2025, Q có mang đến cửa hàng bán quần áo của T một số đồ dùng cá nhân rồi mở cửa để đồ vào nhà, sau đó khóa cửa đi về. Đồ dùng Q mang đến nhà T không chứa ma túy, Q chưa bao giờ cho T ma túy. Ngày 19/11/2025, Cơ quan điều tra tiến hành đối chất giữa Q và T cả hai đều giữ nguyên lời khai như lời khai ban đầu của T. Hiện Trần Hải Q đang bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Hà Nội khởi tố, tạm giam về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Đối với Ngô Doãn N, khi đến nhà T chơi N không biết T tàng trữ trái phép chất ma túy, T tự lấy ma túy ra để sử dụng một mình, T không rủ N sử dụng, N cũng không xin ma túy của T để sử dụng. Tiến hành xét nghiệm tìm chất ma túy trong nước tiểu (bằng que thử nhanh) đối với N thấy kết quả dương tính với ma túy dạng methamphetamine, Mor. Xác minh nhân thân của Ngô Doãn N xác định N không phải là đối tượng trong thời hạn cai nghiện ma túy hoặc điều trị nghiện các chất ma túy bằng thuốc thay thế, đang trong thời hạn quản lý sau cai nghiện ma túy; đang trong thời hạn 02 năm kể từ ngày hết thời hạn quản lý sau cai nghiện và trong thời hạn quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy tự nguyện hoặc điều trị nghiện các chất ma túy bằng thuốc thay thế theo quy định tại của Luật phòng, chống ma túy nên hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Ngô Doãn N không cấu thành tội Sử dụng trái phép chất ma túy theo quy định tại Điều 256a Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi năm 2025. Ngày 19/11/2025, Công an thành phố Hà Nội đã ra Quyết định số 360/QĐ-GQXP xử phạt hành chính số tiền là 1.500.000 đồng đối với Ngô Doãn N về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy.

Bản Cáo trạng số 87/CT-VKSKV8 ngày 30 tháng 12 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 8 – Hà Nội truy tố bị cáo Lương Thị T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo qui định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Lương Thị T khai nhận hành vi đã thực hiện như nội dung nêu trên. Bị cáo cũng trình bày bản thân đã nhận thức hành vi của mình là sai pháp luật nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 8 – Hà Nội tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Lương Thị T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Lương Thị T từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm 06 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Số ma túy thu giữ của bị cáo Lương Thị T, sau khi giám định đã được Cơ quan giám định niêm phong trong 03 bao gói, vật chứng này không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy Tịch thu tiêu hủy 03 bao gói chứa ma tuý, sau khi giám định đã được Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hà Nội niêm phong. Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone XS màu đen đã cũ của Lương Thị T và 01 thẻ sim lắp trong máy Iphone XS sử dụng làm phương tiện để mua ma túy. Trả lại Lương Thị T 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 16 Promax màu vàng và 01 sim thẻ lắp trong máy Iphone 16 Proxmax là tài sản riêng của T không liên quan đến việc phạm tội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên; Viện kiểm sát, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra và truy tố, Cơ quan điều tra, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị cáo Lương Thị T thành khẩn khai nhận hành vi của mình như nội dung cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, được chứng minh bằng lời khai người làm chứng, vật chứng và các tài liệu điều tra khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định: Do có nhu cầu sử dụng ma túy, nên ngày 25/7/2025 nên Lương Thị T đã đặt mua trên Telegram với số tiền là 5.000.000 đồng. Đến khoảng hơn 02 giờ ngày 26/7/2026 khi T đang sử dụng ma túy thì bị Công an xã S đến kiểm tra và bắt giữ. Hành vi trên của bị cáo đã đủ các yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Tổng khối lượng ma túy Methaphetamine thu giữ của bị cáo là 14.493 gam nên hành vi của bị cáo thuộc điểm g khoản 2 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 8 – Hà Nội truy tố bị cáo về tội danh và điều luật đã viện dẫn trong bản cáo trạng là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét tính chất của vụ án là rất nghiêm trọng. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền của nhà nước về quản lý các chất ma túy. Ma túy còn là một trong những nguyên nhân dẫn đến việc phát sinh tội phạm hình sự và tệ nạn xã hội, gây mất trật tự trị an xã hội. Do đó, cần phải có hình phạt nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội để cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm nói chung.

Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử cũng xem xét: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 của Bộ luật hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đều thành khẩn khai báo nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Ngoài ra, bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án và tiền sự, lần đầu phạm tội nên xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt.

Theo qui định của Bộ luật hình sự thì ngoài hình phạt chính điều luật còn quy định hình phạt bổ sung là phạt tiền, xét thấy bị cáo Lương Thị T là người lao động tự do, thu nhập không ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung.

Về nguồn gốc số ma túy thu giữ khi phát hiện, bắt giữ và thu của Lương Thị T, bị cáo khai mua qua mạng xã hội Telegram, T không biết mặt đối tượng, do đối tượng bán ma túy đã cài đặt chế độ xóa cuộc gọi và tài khoản nên không có thông tin gì. Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã tiến hành điều tra đã rà soát đối tượng giao ma túy cho T nhưng không phát hiện đối tượng nào có đặc điểm như mô tả của T nên không có căn cứ làm rõ, xử lý theo quy định.

Về vật chứng vụ án: Số ma túy thu giữ của bị cáo Lương Thị T, sau khi giám định đã được Cơ quan giám định niêm phong trong 03 bao gói, vật chứng này không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy Tịch thu tiêu hủy 03 bao gói chứa ma tuý, sau khi giám định đã được Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hà Nội niêm phong. Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone XS màu đen đã cũ của Lương Thị T và 01 thẻ sim lắp trong máy Iphone XS sử dụng làm phương tiện để mua ma túy. Trả lại Lương Thị T 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 16 Promax màu vàng và 01 sim thẻ lắp trong máy Iphone 16 Proxmax là tài sản riêng của T không liên quan đến việc phạm tội.

Về đối tượng tên Ngô Doãn N tiến hành xét nghiệm nước tiểu dương tính với ma túy nhưng không biết T tàng trữ trái phép chất ma túy, N cũng không xin ma túy của T để sử dụng. Tiến hành xét nghiệm tìm chất ma túy trong nước tiểu (bằng que thử nhanh) đối với N thấy kết quả dương tính với ma túy dạng methamphetamine, Mor. Xác minh nhân thân của Ngô Doãn N xác định N không phải là đối tượng trong thời hạn cai nghiện ma túy hoặc điều trị nghiện các chất ma túy bằng thuốc thay thế, đang trong thời hạn quản lý sau cai nghiện ma túy; đang trong thời hạn 02 năm kể từ ngày hết thời hạn quản lý sau cai nghiện và trong thời hạn quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy tự nguyện hoặc điều trị nghiện các chất ma túy bằng thuốc thay thế theo quy định tại của Luật phòng, chống ma túy nên hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Ngô Doãn N không cấu thành tội Sử dụng trái phép chất ma túy theo quy định tại Điều 256a Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi năm 2025. Ngày 19/11/2025, Công an thành phố Hà Nội đã ra Quyết định số 360/QĐ-GQXP xử phạt hành chính số tiền là 1.500.000 đồng đối với Ngô Doãn N về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy là có căn cứ.

Án phí, quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo qui định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Lương Thị T 06 (Sáu) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 26/7/2025.

2. Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy 03 bao gói chứa ma tuý, sau khi giám định đã được Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hà Nội niêm phong. Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone XS màu đen đã cũ của Lương Thị T và 01 thẻ sim lắp trong máy Iphone XS sử dụng làm phương tiện để mua ma túy. Trả lại Lương Thị T 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 16 Promax màu vàng và 01 sim thẻ lắp trong máy Iphone 16 Proxmax là tài sản riêng của T không liên quan đến việc phạm tội.

(Vật chứng được xử lý hiện lưu giữ tại Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 8 - Hà Nội theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 21/01/2026).

3. Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Lương Thị T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo Lương Thị T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Cỡ chữ