- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đỗ Công T - Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa…"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đỗ Công T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 15 – PHÚ THỌ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 25/2026/HS-ST Ngày 12 – 02 – 2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 15 – PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Hữu Doanh.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đinh Thị Phong và bà Bùi Thị Liên.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Phương – Thẩm tra viên chính Tòa án nhân dân khu vực 15 – Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 15 – Phú Thọ tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thu Hiền - Kiểm sát viên.
Ngày 12/02/2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 15 – Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 21/2025/TLST-HS ngày 18/11/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 10/2026/QĐXXST-HS ngày 15/01/2026 và Quyết định hoãn phiên tòa số 05/2026/HSST-QĐ ngày 30/01/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 15 – Phú Thọ đối với bị cáo:
Đỗ Công T (Tên gọi khác: Không), sinh năm 1989 tại xã P, tỉnh Vĩnh Long; nơi cư trú: Ấp T, xã P, tỉnh Vĩnh Long; chỗ ở hiện nay: Tổ dân phố T, phường V, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Nghề tự do; trình độ văn hoá (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Tin lành; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn Đ (đã chết) và bà Đỗ Thị Kim M; có vợ là Hoàng Thị T; có hai con, lớn sinh năm 2011, nhỏ sinh năm 2019; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo là đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam thuộc chi bộ ấp Tân Huề Tây, xã Phú Túc, tỉnh Vĩnh Long, đã đình chỉ sinh hoạt đảng theo Quyết định số 03-QĐ/UBKTĐU ngày 26/8/2025 của Ủy ban kiểm tra Đảng ủy xã Phú Túc.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 10/8/2025, chuyển tạm giam từ ngày 19/8/2025 đến nay, được trích xuất có mặt tại phiên tòa.
* Người tham gia tố tụng khác:
- Bị hại: Bà Trần Thị M, sinh năm 1982; nơi cư trú: Xóm T, xã M, tỉnh Phú Thọ (đã chết).
Người đại diện hợp pháp của bị hại: Ông Đinh Văn T, sinh năm 1970; nơi cư trú: Xóm T, xã M, tỉnh Phú Thọ; có mặt.
- Bị đơn dân sự: Ông Hoàng Văn L, sinh năm 1961; nơi cư trú: Bản C1, xã Cc, tỉnh Sơn La; có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
+ Chị Hoàng Thị T, sinh năm 1987; nơi cư trú: Tổ dân phố T, phường V, tỉnh Sơn La; có mặt.
+ Anh Hoàng Duy K, sinh năm 1986; nơi cư trú: Bản C 1, xã C, tỉnh Sơn La; có mặt.
+ Ngân hàng Thương mại Cổ phần V T (VPx); địa chỉ trụ sở: Số 89, L, phường Đ, thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo ủy quyền lại: Ông Bùi Mạnh T, sinh năm 1995; Địa chỉ: Tầng 3, VPx Hòa Bình, số 878 đường C, phường H, tỉnh Phú Thọ – Là chuyên viên xử lý nợ; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Đỗ Công T biết anh Hoàng Duy K, sinh năm 1986, trú tại: Bản C1, xã C, tỉnh Sơn La kinh doanh dịch vụ xe ô tô chở khách nên T đã xin làm công việc lái xe thuê cho anh K và được nhận vào làm từ tháng 7/2025. Đỗ Công T được anh K giao xe ô tô biển số 26A-229.63 (là xe của bố đẻ anh K, đăng ký tên Hoàng Văn L, sinh năm 1961, trú tại bản C1, xã C, tỉnh Sơn La) cùng toàn bộ giấy tờ xe. Theo thoả thuận, anh K sẽ cung cấp thời gian, địa điểm, số điện thoại của khách đặt xe cho T để T đến đón.
Khoảng 00 giờ 00 phút ngày 10/8/2025, Đỗ Công T điều khiển xe ô tô biển số 26A-229.63 đón 02 người khách mà anh K gửi thông tin trước đó và xuất phát đi từ thành phố Hải Phòng về phường M, tỉnh Sơn La. Khoảng 03 giờ 30 phút, khi đi đến đoạn đường quốc lộ 6 thuộc địa phận xã C, tỉnh Phú Thọ, T có dừng lại sạc pin xe và tranh thủ ngủ trong lúc chờ xe được sạc đầy, 30 phút sau thì khách gọi T dậy để tiếp tục di chuyển. T điều khiển xe theo hướng Hà Nội - Sơn La, đến khoảng 04 giờ 35 phút cùng ngày, khi đi đến đoạn đường Km 100 +170m quốc lộ 6 thuộc khu An Khang, xã Tân Lạc, tỉnh Phú Thọ do buồn ngủ nên T đã ngủ gật trong lúc điều khiển xe, khiến xe ô tô biển số 26A-229.63 do T điều khiển đi lấn sang phần đường ngược chiều. Lúc này, bà Trần Thị M, sinh năm 1982, trú tại: Xóm T, xã M, tỉnh Phú Thọ điều khiển xe mô tô biển số 28E1-000.06 có bật đèn chiếu sáng đi bên làn đường ngược chiều theo hướng Sơn La - Hà Nội phía trước xe ô tô do Đỗ Công T điều khiển. Ánh sáng từ đèn xe của bà M chiếu vào mắt khiến T tỉnh ngủ. Tuy nhiên, do xe ô tô của T điều khiển đã lấn sang phần đường của xe bà M và cách xe bà M với khoảng cách gần nên T không kịp xử lý dẫn đến phần đầu xe ô tô biển số 26A-229.63 do T điều khiển đã đâm vào xe mô tô biển số 28E1-000.06 của bà M. Hậu quả bà Trần Thị M tử vong tại hiện trường, 02 phương tiện hư hỏng.
Ngay sau tai nạn, Đỗ Công T đã lập tức dừng xe ô tô tại vị trí va chạm với xe mô tô của bà Trần Thị M. Tuy nhiên, sau đó do giao thông ùn tắc nên T đã điều khiển xe sang lề đường bên phải theo hướng Hà Nội - Sơn La để các phương tiện khác tiếp tục di chuyển. Sau đó, Đỗ Công T đã tới Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Phú Thọ đầu thú và khai nhận hành vi của mình.
* Kết quả khám nghiệm hiện trường: Hiện trường xảy ra tai nạn là đoạn Km 100 +170m quốc lộ 6 thuộc địa phận khu An Khang, xã Tân Lạc, tỉnh Phú Thọ. Đoạn đường xảy ra tai nạn là đoạn đường hai chiều, thẳng trải áp phan có chiều rộng là 6m20, ở giữa có vạch kẻ đường màu vàng để phân chia phần đường xe chạy, phần đường phải hướng Sơn La đi Hà Nội rộng 3m10, lề phải đường và lề trái đường hai bên rộng 1m20. Xác định cột km100+200m nằm bên trái đường hướng Sơn La đi Hà Nội là mốc cố định để đo khoảng cách dấu vết và sử dụng mép đường bên phải theo hướng Sơn La đi Hà Nội là mép đường chuẩn để đo khoảng cách các dấu vết. Căn cứ vào chiều hướng di chuyển của hai phương tiện, các dấu vết để lại trên các phương tiện, dấu vết tại hiện trường xác định điểm (A) là điểm va chạm giữa xe ô tô biển số 26A-229.63 và xe mô tô biển số 28E1-000.06. Điểm (A) cách mép chuẩn là 1m30, cách tim đường là 1m80, cách đầu vết phanh vị trí số (1) là 4m40, cách đầu vị trí vùng mảnh vỡ số (2) là 0,60m, cách mốc cố định là 40m70. Xác định xe ô tô do T điều khiển lấn chiếm sang phần đường đi ngược chiều của bà Mùi là 1m80.
Tại Bản kết luận giám định tử thi số 1679/KLGĐTT-KTHS ngày 03/9/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Phú Thọ kết luận: “Nguyên nhân chết của Trần Thị M: Đa chấn thương”.
Tại Bản kết luận giám định số: 6222/KL-KTHS ngày 18/8/2025 của Viện khoa học hình sự Bộ Công an kết luận:
“ - Mẫu máu của Đỗ Công T (SN: 1989, trú tại: ấp Tân Huề Tây, xã Phú Túc, tỉnh Vĩnh Long) gửi giám định không tìm thấy ethanol (cồn).
- Mẫu máu của Trần Thị M (SN: 1982, trú tại: xóm Tân Phú, xã Mường Bi, tỉnh Phú Thọ) gửi giám định không tìm thấy ethanol (cồn)”.
Tại Bản kết luận số: 6227/KL-KTHS ngày 25/8/2025 của Viện khoa học hình sự Bộ Công an kết luận đối với các mẫu máu ghi thu của Đỗ Công T và Trần Thị M: “Không tìm thấy chất ma túy và sản phẩm chuyển hóa của chất ma túy trong các mẫu máu gửi giám định”.
Bản cáo trạng số 09/CT-VKSKV15 ngày 17/11/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 15 - Phú Thọ truy tố bị cáo Đỗ Công T về tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ theo điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017 và năm 2025.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng đã truy tố. Bị cáo không có ý kiến gì về nội dung bản cáo trạng, không kêu oan.
Ý kiến của những người tham gia phiên tòa được Tòa án triệu tập:
Người đại diện hợp pháp của bị hại: Về trách nhiệm dân sự, gia đình bị cáo và bị đơn dân sự đã bồi thường số tiền 205 triệu đồng bao gồm chi phí mai táng phí, tổn thất tinh thần, cấp dưỡng cho con chưa thành niên và thiệt hại về xe mô tô, nay không đề nghị bị cáo phải bồi thường gì thêm. Về trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Bị đơn dân sự và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án Hoàng Duy K: Ngày 13/6/2025, ông Hoàng Văn L vay của VPx số tiền 532.900.000 đồng, thời hạn vay 96 tháng. Tài sản thế chấp là 01 xe ô tô nhãn hiệu hiệu VINFAST, VF 6 – ECO, động cơ điện, AT; biển số 26A – 229.63; giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 26 00000911 do Công an tỉnh Sơn La cấp ngày 21/6/2025 mang tên Hoàng Văn L. Quá trình thực hiện hợp đồng, ông Hoàng Văn L thực hiện đúng hợp đồng, không vi phạm nghĩa vụ trả nợ. Do vậy, đề nghị Hội đồng xét xử trả lại chiếc xe ô tô nêu trên cho chủ sở hữu.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án Ngân hàng Thương mại Cổ phần V T: Ngày 13/6/2025, ông Hoàng Văn L vay của VPx- Chi nhánh Kinh Đô số tiền 532.900.000 đồng, thời hạn vay 96 tháng. Tài sản bảo đảm cho khoản vay là 01 xe ô tô nhãn hiệu hiệu VINFAST, VF 6 – ECO, động cơ điện, AT biển số 26A – 229.63; giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 26 00000911 do Công an tỉnh Sơn La cấp ngày 21/6/2025 mang tên Hoàng Văn L.
Quá trình thực hiện hợp đồng, ông Hoàng Văn L không vi phạm nghĩa vụ trả nợ nhưng căn cứ điểm b, khoản 8 Điều 1 của Hợp đồng cho vay; điểm g, h khoản 1 Điều 7 phần A của Điều kiện giao dịch chung; điểm e khoản 1 Điều 8 tại Hợp đồng thế chấp số LN2506065757321 ngày 13/6/2025 giữa VPx với ông Hoàng Văn L thì tài sản thế chấp của ông Hoàng Văn L tại VPx là vật chứng trong vụ án hình sự. VPx đánh giá cần chấm dứt hợp đồng cho vay trước thời hạn. Tài sản thế chấp thuộc trường hợp cần xử lý theo thỏa thuận các bên tại Hợp đồng thế chấp. Ngân hàng đề nghị giao cho VPx để xử lý theo thỏa thuận giữa các bên và quy định của pháp luật.
Những người tham gia tố tụng khác được triệu tập có mặt tại phiên toà khai nhận đúng như lời khai tại giai đoạn điều tra, phù hợp với lời khai của bị cáo và các tài liệu chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên toà.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 15 – Phú Thọ thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử giữ nguyên quyết định truy tố, tội danh đối với bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử:
- Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1; khoản 2 Điều 51 (Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp của bị hại đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; bị cáo đầu thú; bị cáo có mẹ đẻ và vợ bị bệnh hiểm nghèo, không có ai chăm sóc) và khoản 1, 2, 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017 và năm 2025, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Đỗ Công T phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ. Xử phạt bị cáo từ 12 đến 18 tháng tù cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách theo quy định của pháp luật.
Áp dụng khoản 4 Điều 328 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017 và năm 2025, trả tự do cho bị cáo tại phiên tòa.
- Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo khoản 5 Điều 260 BLHS.
- Về trách nhiệm dân sự: Gia đình bị cáo và bị đơn dân sự đã bồi thường cho bị hại số tiền 205.000.000 đồng. Tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm nên không đề cập giải quyết.
- Về vật chứng vụ án: Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017 và năm 2025; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017 và năm 2025;
Trả lại bị cáo 01 (Một) giấy phép lái xe hạng B2 số 830094000671 mang tên Đỗ Công T.
Trả lại ông Bùi Văn T 01 (Một) xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại xe SIRIUS, biển số 28E1- 000.06, xe đã qua sử dụng cũ.
Trả lại ông Hoàng Văn L 01 (Một) xe ô tô nhãn hiệu VINFAST, màu sơn đỏ, biển số 26A- 229.63, xe đã qua sử dụng cũ, đăng ký xe mang tên Hoàng Văn L; 01 giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường xe cơ giới, số 0102929; 01 (một) giấy biên nhận giữ bản chính giấy chứng nhận đăng ký phương tiện giao thông đang thế chấp ngày 24/6/2025; 01 (một) giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc TNDS của chủ xe ô tô số 0000773/25 và 01 (một) giấy chứng nhận bảo hiểm tự nguyện của chủ xe ô tô số BB25/0013247.
- Về án phí: Bị cáo là người bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Các ý kiến tranh luận, đối đáp:
Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại, bị đơn dân sự, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Hoàng Duy K và Hoàng Thị T nhất trí với đề nghị của Viện kiểm sát và không có ý kiến tranh luận gì.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án VPx: Việc trả lại xe cho chủ sở hữu, phía ngân hàng không đồng ý. Việc xử lý vật chứng quy định rõ trong luật và việc thỏa thuận của các bên đã ghi rõ trong hợp đồng. Tại điểm g ngoài những trường hợp đã liệt kê thì còn dấu ba chấm. Tài sản sau tai nạn bị giảm sút giá trị và ngân hàng đã thông báo cho bên vay về việc chấm dứt hợp đồng. Căn cứ vào điểm g, h khoản 1 Điều 7 phần A của Điều kiện giao dịch chung và điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị giao lại xe ô tô cho VPx.
Viện kiểm sát: Chủ sở hữu xe ô tô và anh Hoàng Duy K không bị khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử mà tham gia tố tụng với tư cách là bị đơn dân sự và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án. Khoản vay của ông L được bảo đảm bằng tài sản thế chấp và không vi phạm nghĩa vụ hợp đồng. Vấn đề dân sự thì Ngân hàng có quyền khởi kiện ở vụ án dân sự khác. Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm trả lại xe cho chủ sở hữu theo quy định về xử lý vật chứng.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo xin lỗi gia đình bị hại. Do một chút bất cẩn nên bị cáo đã gây ra mất mát lớn cho gia đình bị hại. Bị cáo rất hối hận về hành vi của mình. Bị cáo là lao động chính nên kính mong Hội đồng xét xử cho bị cáo mức án nhẹ nhất để bị cáo được chăm lo cho gia đình, mẹ, vợ và con.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Phú Thọ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 15 – Phú Thọ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố những người tham gia tố tụng không có khiếu nại, tố cáo hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.
Về căn cứ xác định tội danh, điều luật áp dụng đối với bị cáo:
Đỗ Công T là người có giấy phép lái xe hạng B2 theo quy định. Khoảng 04 giờ 35 phút ngày 10/8/2025, Đỗ Công T điều khiển xe ô tô biển số 26A-229.63 đi theo hướng Hà Nội - Sơn La trong tình trạng không tỉnh táo do thiếu ngủ. Khi đi đến đoạn đường Km 100 +170m quốc lộ 6 thuộc khu An Khang, xã Tân Lạc, tỉnh Phú Thọ, do buồn ngủ nên T đã ngủ gật trong lúc điều khiển xe, khiến xe ô tô biển số 26A-229.63 đi lấn chiếm sang phần đường ngược chiều 1m80 dẫn đến phần đầu xe ô tô do T điều khiển đã đâm vào xe mô tô biển số 28E1-000.06 do bà Trần Thị M điều khiển đi theo hướng ngược chiều. Hành vi của bị cáo đã vi phạm quy định tại khoản 4 Điều 3 và khoản 1 Điều 10 Luật trật tự, an toàn giao thông đường bộ. Hậu quả bà Trần Thị M tử vong tại chỗ và xe mô tô biển số 28E1-000.06 bị hư hỏng. Hành vi của bị cáo đã cấu thành tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ. Cáo trạng truy tố bị cáo theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017 và năm 2025 là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Khoản 4 Điều 3 Luật trật tự, an toàn giao thông đường bộ quy định: “Người tham gia giao thông đường bộ phải chấp hành các quy định của pháp luật về trật tự, an toàn giao thông đường bộ và quy định khác của pháp luật có liên quan, có trách nhiệm giữ an toàn cho mình và cho người khác”.
Khoản 1 Điều 10 Luật trật tự, an toàn giao thông đường bộ quy định: “Người tham gia giao thông đường bộ phải đi bên phải theo chiều đi của mình, đi đúng làn đường, phần đường quy định, chấp hành báo hiệu đường bộ và các quy tắc giao thông đường bộ khác”.
Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội, năng lực chịu trách nhiệm hình sự của bị cáo:
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp vi phạm an toàn, sự hoạt động bình thường của các phương tiện giao thông đường bộ. Bị cáo có năng lực trách chịu nhiệm hình sự. Tuy nhiên, khi điều khiển xe tham gia giao thông đã không chấp hành quy định của Luật giao thông đường bộ nên gây ra tai nạn làm thiệt hại tính mạng và tài sản của người khác. Hậu quả gây nên là nghiêm trọng. Việc đưa bị cáo ra xét xử tại phiên tòa hôm nay là cần thiết và cần có một mức án nghiêm khắc tương xứng với hành vi và hậu quả mà bị cáo đã gây ra mới đủ để cải tạo, phòng ngừa tội phạm.
Về nhân thân: Bị cáo nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.
Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi xảy ra tai nạn, bị cáo tác động gia đình cùng bị đơn dân sự đã bồi thường cho bị hại số tiền 205.000.000đ. Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải hành vi phạm tội của mình. Bi cáo đầu thú. Hiện nay, mẹ đẻ và vợ của bị cáo bị mắc bệnh hiểm nghèo, không có ai chăm sóc. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp của bị hại đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1; khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017 và năm 2025, Hội đồng xét xử áp dụng cho bị cáo khi quyết định hình phạt.
Xét thấy, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng. Do vậy, không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho bị cáo được hưởng biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện theo đề nghị Viện kiểm sát cũng đủ để cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội pham chung.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo nên đề nghị của Viện kiểm sát là có căn cứ.
Về trách nhiệm dân sự: Gia đình bị cáo và bị đơn dân sự đã bồi thường cho bị hại tổng số tiền 205.000.000đ. Tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
Đối với số tiền đã bồi thường cho bị hại, chị Hoàng Thị T và ông Hoàng Văn L không yêu cầu bị cáo phải hoàn lại nên không đề cập giải quyết.
Đối với xe ô tô biển số 26A-229.63 bị thiệt hại, ông Hoàng Văn L không yêu cầu bị cáo phải bồi thường nên không đề cập giải quyết.
Về vật chứng của vụ án:
Đối với giấy phép lái xe hạng B2 số 830094000671 mang tên Đỗ Công T. Do không áp dụng hình phạt bổ sung nên trả lại bị cáo khi án có hiệu lực pháp luật.
Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại xe SIRIUS, biển số 28E1- 000.06, đăng ký xe mang tên Đinh Văn T, xe đã qua sử dụng cũ cần trả lại chủ sở hữu khi án có hiệu lực pháp luật.
Đối với chiếc xe ô tô nhãn hiệu VINFAST, màu sơn đỏ, biển số 26A-229.63, xe đã qua sử dụng cũ, đăng ký xe mang tên Hoàng Văn L và các gấy tờ, gồm: 01 giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường xe cơ giới, số 0102929; 01 (một) giấy biên nhận giữ bản chính giấy chứng nhận đăng ký phương tiện giao thông đang thế chấp ngày 24/6/2025; 01 (một) giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc TNDS của chủ xe ô tô số 0000773/25; 01 (một) giấy chứng nhận bảo hiểm tự nguyện của chủ xe ô tô số BB25/0013247. Hội đồng xét xử thấy rằng, quá trình thực hiện hợp đồng, ông Hoàng Văn L không vi phạm nghĩa vụ trả nợ, không trực tiếp phạm tội và bị khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, bắt, chấp hành án phạt tù theo điểm g khoản 1 Điều 7 Điều kiện giao dịch chung của ngân hàng. Tội phạm do bị cáo Đỗ Công T gây ra với lỗi vô ý. Do vậy, không có căn cứ giao lại cho Ngân hàng xe ô tô nêu trên mà cần trả lại chủ sở hữu hợp pháp theo quan điểm của Viện kiểm sát là có căn cứ.
Về án phí: Bị cáo là người bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017 và năm 2025; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1; khoản 2 Điều 51 và khoản 1, 2, 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017 và năm 2025;
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đỗ Công T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Đỗ Công T 15 (Mười lăm) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 30 (Ba mươi) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (Ngày 12/02/2026).
Giao bị cáo cho Uỷ ban nhân dân phường Vân Sơn, tỉnh Sơn La giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục.
Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú trong thời gian thử thách thì được thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017 và năm 2025; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017 và năm 2025;
Trả lại bị cáo Đỗ Công T 01 (Một) giấy phép lái xe hạng B2 số 830094000671 do Sở giao thông vận tải tỉnh Bến Tre cấp ngày 08/5/2024 mang tên Đỗ Công T.
Trả lại ông Đinh Văn T 01 (Một) xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại xe SIRIUS, biển số 28E1- 000.06, đăng ký xe mang tên Đinh Văn T, xe đã qua sử dụng cũ.
Trả lại ông Hoàng Văn L 01 (Một) xe ô tô nhãn hiệu VINFAST, màu sơn đỏ, biển số 26A- 229.63, xe đã qua sử dụng cũ, đăng ký xe mang tên Hoàng Văn L; 01 giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường xe cơ giới, số 0102929; 01 (một) giấy biên nhận giữ bản chính giấy chứng nhận đăng ký phương tiện giao thông đang thế chấp ngày 24/6/2025; 01 (một) giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc TNDS của chủ xe ô tô số 0000773/25 và 01 (một) giấy chứng nhận bảo hiểm tự nguyện của chủ xe ô tô số BB25/0013247.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng số 05 ngày 20/11/2025 giữa Công an tỉnh Phú Thọ với Phòng thi hành án dân sự khu vực 15 – Phú Thọ).
4. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017 và năm 2025; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Bị cáo Đỗ Công T phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
5. Quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017 và năm 2025;
Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại; bị đơn dân sự và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Phú Thọ; - VKSND tỉnh Phú Thọ; - VKSND khu vực 15 – Phú Thọ; - THADS tỉnh Phú Thọ; - CQCSĐT Công an tỉnh Phú Thọ; - CQ THAHS Công an tỉnh Phú Thọ; - Bị cáo; - Người đại diện hợp pháp của bị hại; - Bị đơn dân sự; - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án; - Lưu hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Trần Hữu Doanh |