- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Hoàng H - vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoàng H phạm Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 260 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| KHU VỰC 14 – CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 25/2026/HS-ST Ngày 31 tháng 3 năm 2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 14 – CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Ngô Huỳnh
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Bỉnh
2. Ông Đặng Thành Sơn
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Phạm Tấn Phát – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 14 – Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 14 – Cần Thơ tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huyền Trang - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 3 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 14 – Cần Thơ. Tòa án nhân dân khu vực 14 – Cần Thơ xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 26/2026/HS-ST, ngày 16 tháng 3 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 18/2026/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 3 năm 2026.
Đối với bị cáo Nguyễn Hoàng H, sinh ngày 21 tháng 01 năm 2007 tại xã T, thành phố Cần Thơ; Nơi cư trú: ấp A, xã T, thành phố Cần Thơ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: công nhân; Trình độ học vấn: 8/12; con ông Nguyễn Văn H1 (sống) và bà Phạm Thị H2 (sống); bị cáo chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên toà.
- Bị hại: Ông Trần Huỳnh L, sinh năm 1989 (có mặt)
Trú tại: ấp T, xã Đ, thành phố Cần Thơ
- Người làm chứng:
1/ Bà Võ Ngọc H3, sinh năm 1992 (vắng mặt)
2/ Ông Lưu Toàn Q, sinh năm 1980 (vắng mặt)
3/ Ông Trần Nhật T, sinh năm 1983 (có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 23 giờ 50 phút ngày 12/3/2025, sau khi có uống bia, Nguyễn Hoàng H điều khiển xe mô tô nhãn hiệu SUZUKI SATRIA màu xanh, không có biển số kiểm soát, lưu thông trên quốc lộ F hướng cầu C về cầu T. Khi đến Km 1+200, ấp X, xã T, thành phố Cần Thơ, H thấy đèn xe ô tô ngược chiều đổ lại nên điều khiển xe mô tô chạy sát vào phần đường bên phải theo hướng đi. Lúc này ông Trần Huỳnh L đang đậu xe đạp sát lề lộ để sắp xếp các vỏ thùng giấy lên xe đạp, ông L đứng phía ngoài, xe đạp đậu cặp lề phía trong. Do không phát hiện thấy ông Trần Huỳnh L nên xe mô tô của H đã va chạm vào người làm ông Trần Huỳnh L bị đẩy về phía trước một đoạn thì ngã xuống mặt đường, xe đạp của ông L ngã về phía bên phải ngay chỗ đậu xe, xe mô tô và Nguyễn Hoàng H bị ngã trượt dài một đoạn trên mặt lộ thì dừng lại. Sau va chạm Nguyễn Hoàng H đi bộ lại chỗ ông Trần Huỳnh L để xem xét, sau đó Nguyễn Hoàng H và ông Trần Huỳnh L bất tỉnh được người dân đưa đi cấp cứu.
Tại biên bản khám nghiệm hiện trường lập vào lúc 14 giờ ngày 13/3/2025 thể hiện: Hiện trường chính xảy ra vụ việc tại Quốc lộ F, đoạn Km 1+200, ấp X, xã T, huyện C, tỉnh Hậu Giang (nay là ấp X, xã T, thành phố Cần Thơ). Tại hiện trường ghi nhận: Hướng Bắc giáp nhà dân ấp X, xã T. Hướng Nam giáp nhà dân ấp N, xã T. Hướng Đông lộ 61 hướng về cầu C. Hướng Tây lộ 61 hướng về cầu T. Quốc lộ F rộng 7m10, chia hai chiều xe chạy ngược chiều nhau, ở giữa hai làn có vẽ vạch đứt nét màu vàng, phân chia hai chiều xe chạy, mỗi làn đường rộng 3m55, mặt đường được trãi nhựa bằng phẳng.
Lấy hướng từ cầu C về hướng cầu T mép đường phải làm mép đường chuẩn, lấy cột Km 1+200 làm mốc cố định để tiến hành đo đạc.
Vị trí số 1 là vùng va chạm: Vị trí này cách mép đường chuẩn là 1m22, vị trí số 1 cách cột mốc cố định Km 1+200 là 16m45.
Vị trí số 2 là vị trí xe đạp: Xe đạp ngã về bên phải nằm trên mép đường chuẩn, đầu quay về hướng Tây (cầu T), đuôi quay về hướng Đông (cầu C), trục trước xe đạp cách mép đường chuẩn là 0,25m, trục sau xe đạp cách mép đường chuẩn là 0,35m, trục trước xe đạp cách vùng va chạm vị trí số 1 là 1m95, trục sau xe đạp cách vùng va chạm vị trí số 1 là 1m10.
Vị trí số 3 là vị trí vết cày không liên tục: Đầu vết cày cách mép đường chuẩn là 1m47, đuôi vết cày cách mép lề trái là 0,82m, đầu vết cày vị trí số 3 đến trục đầu xe đạp vị trí số 2 là 1m25, vết cày không liên tục dài 97m.
Vị trí số 4 là vị trí vết máu: Vết máu có kích thước (60cm x 5cm). Vết máu đã bị phủ cát nằm sát mép đường chuẩn, vị trí vết máu cách đầu vết cày vị trí số 3 là 2m30.
Vị trí số 5 là vị trí nón bảo hiểm, đèn soi biển số. Vị trí này nằm tại cống thoát nước sát lề lộ bên trái, vị trí số 5 cách lề trái là 1m15 và cách vị trí vết máu số 4 là 73m65.
Vị trí số 6 là vị trí xe mô tô không biển số: Xe ngã về bên trái đầu quay về hướng B, đuôi quay về hướng N, trục trước xe mô tô cách lề trái là 0,2m, trục sau xe mô tô cách lề trái là 1m55, trục trước xe mô tô cách vị trí số 1 là 99m20.
Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 134/KLTTCT-TTPY ngày 14/5/2025 của Trung tâm pháp y thuộc Sở Y kết luận: Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y1 quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Trần Huỳnh L tại thời điểm giám định là 77%, áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.
Tại phiếu xét nghiệm nồng độ cồn trong máu của Bệnh viện Đ đối với mẫu máu của Nguyễn Hoàng H, lập vào lúc 03 giờ 43 phút ngày 13/3/2025 thể hiện: kết quả xét nghiệm có cồn 67,6 mg/100ml.
Quá trình điều tra bị can Nguyễn Hoàng H thừa nhận hành vi phạm tội, ăn năn hối cải. Quá trình điều tra bị can đã tác động gia đình bồi thường cho ông Trần Huỳnh L số tiền 150.000.000 đồng, ông Trần Huỳnh L có đơn xin bãi nại không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bị can Nguyễn Hoàng H.
Quá trình điều tra đã tạm giữ tài liệu, đồ vật gồm:
- 01 xe đạp, không nhãn hiệu, màu bạc (của ông Trần Huỳnh L);
- 01 xe mô tô không biển kiểm soát, nhãn hiệu SUZUKI, số loại SATRIA F150, màu xanh, số máy CGA1602759, số khung MH8DL11ANLJ102720 (xe mô tô của bị can Nguyễn Hoàng H mua trả góp tại cửa hàng H5 ở thành phố Cần Thơ để sử dụng nhưng chưa sang tên trong giấy đăng ký xe).
Các phương tiện nêu trên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C đã nhập kho vật chứng, chưa xử lý.
Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra các bên đã thỏa thuận xong, ông Trần Huỳnh L không yêu cầu bồi thường thêm.
Tại phiên tòa hôm nay bị cáo thừa nhận hành vi của mình như cáo trạng đã truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát tại Tòa giữ nguyên quan điểm đã truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a, điểm b khoản 2 Điều 260, điểm b, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 54 của Bộ Luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Hoàng H thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng đã truy tố. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, kết luận giám định, kết quả xét nghiệm nồng độ cồn, lời khai của bị hại và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở xác định:
Vào khoảng 23 giờ 50 phút ngày 12/3/2025, mặc dù không có giấy phép lái xe theo quy định và trong máu có nồng độ cồn qua xét nghiệm là 67,6 mg/100ml, Nguyễn Hoàng H điều khiển xe mô tô không biển kiểm soát, nhãn hiệu SUZUKI, SATRIA F150 lưu thông trên Quốc lộ F, đến Km 1+200 ấp X, xã T, thành phố Cần Thơ do không chú ý quan sát nên đã va chạm vào người ông Trần Huỳnh L. Hành vi của bị cáo Nguyễn Hoàng H là vi phạm Khoản 1, 2, 28 Điều 9 Luật trật tự, an toàn giao thông đường bộ gây hậu quả làm ông Trần Huỳnh L bị thương tích 77%. Hành vi của Nguyễn Hoàng H đủ yếu tố cấu thành Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ được quy định tại điểm a, điểm b khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Bị cáo Nguyễn Hoàng H điều khiển xe mô tô tham gia giao thông trong tình trạng có sử dụng rượu, bia và không có giấy phép lái xe theo quy định. Bị cáo nhận thức được việc điều khiển phương tiện giao thông cơ giới đường bộ phải có giấy phép lái xe do cơ quan có thẩm quyền cấp và trong người không có rượu, bia. Tuy nhiên vẫn điều khiển xe mô tô lưu thông trên đường, thể hiện ý thức chấp hành pháp luật của bị cáo là kém, làm tăng mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, là một trong những nguyên nhân dẫn đến việc không làm chủ được tình huống khi tham gia giao thông, gây tai nạn làm ông Trần Huỳnh L bị thương tích nặng. Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nghiêm trọng, xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông đường bộ, đồng thời xâm phạm đến sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nên bị cáo phải chịu trách nhiệm về hành vi phạm tội đã gây ra.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Hoàng H đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Sau khi vụ tai nạn xảy ra, bị cáo đã chủ động tác động gia đình bồi thường cho bị hại Trần Huỳnh L số tiền 150.000.000 đồng, bị hại đã nhận đủ tiền và có đơn xin bãi nại. Nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Hành vi của bị cáo Nguyễn Hoàng H thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, là khung hình phạt nghiêm khắc. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, không cần thiết phải áp dụng hình phạt nghiêm khắc trong khung hình phạt đã truy tố. Do đó, Hội đồng xét xử thấy có đủ điều kiện để áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt quy định tại khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, nhằm thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật nhưng vẫn bảo đảm tính răn đe, phòng ngừa chung.
Về vật chứng:
Đối với 01 xe đạp của bị hại Trần Huỳnh L, xét thấy là tài sản hợp pháp của bị hại, cần trả lại cho bị hại.
Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu SUZUKI SATRIA F150 của bị cáo Nguyễn Hoàng H không phải là công cụ phương tiện phạm tội nên trả lại cho bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, bị cáo đã bồi thường cho bị hại 150.000.000 đồng, bị hại đã nhận xong số tiền trên. Tại phiên toà bị cáo tự nguyện bồi thường, hỗ trợ cho bị hại thêm 10.000.000 đồng, đây là sự tự nguyện của bị cáo nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng.
Án phí dân sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu 500.000 đồng.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoàng H phạm Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ.
Áp dụng điểm a, điểm b khoản 2 Điều 260; điểm b, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 54, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng H 01 (một) năm tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
Về vật chứng:
- Trả lại cho bị hại: 01 xe đạp
- Trả lại cho bị cáo: 01 xe mô tô nhãn hiệu SUZUKI SATRIA F150
Các vật chứng nêu trên thể hiện tại phiếu nhập kho số NK 2026/0574 ngày 31/3/2026 của Thi hành án dân sự thành phố Cần Thơ.
Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo bồi thường cho bị hại 10.000.000 đồng (mười triệu đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng.
Án phí dân sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu 500.000 đồng.
Bị cáo; bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Phan Ngô Huỳnh |