vanban.org

Bản án 25/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Thu T:

Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Thu T được ly hôn ông Nguyễn Thanh H. Về con chung: Giao hai con chung tên Nguyễn Đan N (nam) sinh ngày 22/01/2014 và Nguyễn Gia N1 (nam) sinh ngày 10/4/2024 cho bà Nguyễn Thị Thu T nuôi dưỡng đến trưởng thành. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Thu T tranh chấp ly hôn"
  • Tòa quyết gì? 1/ Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Thu T:
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 4 – GIA LAI
TỈNH GIA LAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 25/2026/HNGĐ-ST
Ngày:
29-01-2026
V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4, TỈNH GIA LAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Giang Nam.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Diễm Chi.

2. Bà Đào Thị Thanh Phương.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Mỹ Hiệp - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 4, tỉnh Gia Lai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4, tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Bà Bùi Kim Châu Nghĩa - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 4 xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 117/2025/TLST- HNGĐ ngày 29 tháng 10 năm 2025 về việc “Tranh chấp ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 03/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 12 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Thu T, sinh năm 1989; CCCD số: xxxxxxxxxxxx (Vắng mặt, có đơn).

Trú tại: Xóm Y, thôn HM, xã BH, tỉnh Gia Lai

- Bị đơn: Ông Nguyễn Thanh H, sinh năm 1990; CCCD số: xxxxxxxxxxxx (Vắng mặt lần 02).

- Trú tại: Thôn M, xã BA, tỉnh Gia Lai

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện (yêu cầu ly hôn), bản tự khai và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn là bà trình bày: bà và ông Nguyễn Thanh H tự nguyện tìm hiểu, yêu thương nhau, được gia đình chấp nhận tổ chức lễ cưới. Có đăng ký kết hôn tại UBND xã BH (xã BT, huyện T, tỉnh Bình Định cũ) vào ngày 17/4/2014. Sau khi cưới vợ chồng sống hạnh phúc được khoảng 09 năm thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân chính là do vợ chồng không còn hiểu nhau và không nói chuyện được với nhau. Vợ chồng đã cắt đứt quan hệ phần ai nấy sống, phần ai nấy sống từ đầu năm 2025 đến nay. Nay xét thấy không còn tình cảm yêu thương gì, bà yêu cầu ly hôn ông H.

Về con chung: bà và ông Nguyễn Thanh H có 02 con chung là: Nguyễn Đan N (nam) sinh ngày 22/01/2014 và Nguyễn Gia N1 (nam) sinh ngày 10/4/2024. Khi ly hôn bà T yêu cầu được nhận nuôi cả 02 con chung đến trưởng thành, không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: không yêu cầu Tòa giải quyết.

Tại phiên Tòa hôm nay, bị đơn là ông Nguyễn Thanh H vắng mặt không có lý do: ông Nguyễn Thanh H đã được tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, giấy triệu tập, Quyết định xét xử nhưng vẫn vắng mặt, không cung cấp lời khai và yêu cầu đối với vụ án.

Biên bản xác minh ngày 30/10/2025 Công an xã BA cung cấp: ông Nguyễn Thanh H có đăng ký hộ khẩu thường trú tại thôn M, xã BA, tỉnh Gia Lai; ông H chưa cắt khẩu đi nơi khác; ông Nguyễn Thanh H đi làm, vẫn về sinh sống tại địa chỉ trên.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 4 phát biểu:

Việc tuân thủ pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử từ khi Tòa thụ lý đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án là có căn cứ, đúng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại các Điều 70, 71 BLTT Dân sự 2015. Tuy nhiên, bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ được quy định tại các Điều 70, 72, 73 BLTT Dân sự 2015.

Về quan điểm giải quyết vu ̣ án: đề nghi ̣ HĐXX áp dụng các Điều 8, 9, 56, 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 tuyên xử: bà Nguyễn Thị Thu T được ly hôn ông Nguyễn Thanh H. Về con chung: Giao hai con chung tên Nguyễn Đan N (nam) sinh ngày 22/01/2014 và Nguyễn Gia N1 (nam) sinh ngày 10/4/2024 cho bà Nguyễn Thị Thu T nuôi dưỡng đến trưởng thành; về cấp dưỡng nuôi con: không yêu cầu nên miễn xét; về tài sản chung: không yêu cầu Tòa giải quyết nên miễn xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thu T vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Bị đơn là ông Nguyễn Thanh H vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai, mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ. Căn cứ vào quy định tại khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Thu T với ông Nguyễn Thanh H kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã BT (cũ) vào ngày 17/4/2014 đúng theo quy định tại các Điều 8, 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên được công nhận hôn nhân hợp pháp.

Sau khi cưới, vợ chồng chung sống hạnh phúc được khoảng 09 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân chính là do vợ chồng tính tình không hợp, không tìm được tiếng nói chung dẫn đến xa cách nhau, tình cảm không còn. Hai bên đã cắt đứt quan hệ, phần ai nấy sống, không còn quan tâm gì đến nhau từ đầu năm 2025 đến nay. Vợ chồng xa cách đã lâu, nhưng hai bên vẫn bỏ mặc cho tình trạng hôn nhân của mình. Như vậy, chứng tỏ mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Việc bà Thúy yêu cầu ly hôn với ông H là có căn cứ và phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên HĐXX chấp nhận.

Về con chung: bà Thúy và ông H có 02 con chung là: Nguyễn Đan N (nam) sinh ngày 22/01/2014 và Nguyễn Gia N1 (nam) sinh ngày 10/4/2024. Khi ly hôn bà T yêu cầu được nhận nuôi cả 02 con chung đến trưởng thành. HĐXX xét thấy yêu cầu của bà T là phù hợp với nguyện vọng của con chung (cháu Nguyễn Đan N có nguyện vọng sống cùng mẹ), phù hợp với quy định tại Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, đảm bảo cho sự phát triển toàn diện của trẻ, nghị nên chấp nhận.

Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Thúy không yêu cầu nên HĐXX không xét.

Về tài sản chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết nên miễn xét.

Về án phí sơ thẩm: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: cần buộc bà Nguyễn Thị Thu T phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp trước.

Lời phát biểu của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp với nhận định của HĐXX;

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 4 Điều 147; khoản 2 Điều 227; Điều 228; khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Áp dụng các Điều 8, 9, 56, 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình 2014;

Áp dụng Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;

Tuyên xử:

1/ Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Thu T:

- Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Thu T được ly hôn ông Nguyễn Thanh H.

- Về con chung: Giao hai con chung tên Nguyễn Đan N (nam) sinh ngày 22/01/2014 và Nguyễn Gia N1 (nam) sinh ngày 10/4/2024 cho bà Nguyễn Thị Thu T nuôi dưỡng đến trưởng thành.

Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Thúy không yêu cầu nên HĐXX không xét.

Bên không trực tiếp nuôi con nhưng vẫn có quyền thăm nom, giúp đỡ con chung, không ai có quyền ngăn cản. Vì lợi ích của con, khi cần thiết các bên đều có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết nên Tòa không xét.

2/ Về án phí sơ thẩm:

Bà Nguyễn Thị Thu T phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp trước là 300.000đ theo biên lai số 0004376 ngày 28/10/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Gia Lai; bà T đã nộp đủ án phí.

3/ Quyền kháng cáo:

Các đương sự đều vắng mặt tại phiên tòa nên được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết bản án.

4/ Về quyền, nghĩa vụ thi hành án:

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ