vanban.org

Bản án 25/2025/HSST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm i khoản 1 Điều 249; Điều 38; Điểm a, b khoản 1 Điều 46; điểm c khoản 1 Điều 47; điểm s khoản 1 điều 51 của Bộ luật hình sự;

Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên bố: Bị cáo Chu Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy". Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Chu Văn H - Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS nă…"
  • Tòa quyết gì? Điểm i khoản 1 Điều 249; Điều 38; Điểm a, b khoản 1 Điều 46; điểm c khoản 1 Điều 47; điểm s khoản 1 điều 51 của Bộ luật hình sự;
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 4 - HƢNG YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 25/2025/HSST
Ngày: 04/9/2025

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - HƢNG YÊN

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thoa

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Quốc Doanh

Ông Nguyễn Quyết Thắng

- Thƣ ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 4 – Hưng Yên.

- Đại diện VKSND Khu vực 4 – Hƣng Yên tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Minh Thúy - Kiểm sát viên

Ngày 04 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 4 - Hưng Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 08/2025/TLST-HS ngày 01/8/2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 27/2025/QĐXXST-HS ngày 25/8/2025 đối với:

* Bị cáo: Chu Văn H; Sinh năm 1979, Giới tính: Nam. HKTT: xóm Làng Đông, xã C, huyện P, tỉnh Thái Nguyên (Nay là xóm L, xã V, tỉnh Thái Nguyên)

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Sán Dìu; Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do. Bố: Chu Thành H1, mẹ: Tạ Thị L; Anh chị em ruột: có 5 người, bị cáo là thứ 4. Vợ: Lê Thị H2, sinh năm 1983, Nghề nghiệp: Làm ruộng; Con: có 02 người con, sinh năm 2002 và 2004.

Tiền án, tiền sự: Chưa có.

Nhân thân: Ngày 28/02/2015, bị Công an phường T, thành phố T xử phạt hành chính (750.000 đồng) về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy (đã thi hành xong). Ngày 04/8/2021 UBND xã C, huyện P, tỉnh Thái Nguyên ra Quyết định số 147 áp dụng biện pháp giáo dục tại xã C về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy, ngày 04/11/2021 đã chấp hành xong Quyết định. Huấn bị tạm giữ từ ngày 07/5/2025 đến ngày 10/5/2025 chuyển tạm giam, hiện đang bị tạm giam tại phân trại tạm giam Kim Động thuộc trại tạm giam số 1, Công an tỉnh H. Theo Lệnh trích xuất có mặt tại phiên tòa.

*Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Chu Minh T1, sinh năm 2004 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Xóm L, xã V, tỉnh Thái Nguyên

*Ngƣời chứng kiến: Ông Phó Đức T2, sinh năm 1978 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn Đ, xã V, tỉnh Hưng Yên.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 22 giờ 30 phút ngày 06/5/2025, tổ công tác lực lượng Cảnh sát cơ động thuộc phòng Cảnh sát cơ động - Công an tỉnh H phối hợp với Công an xã T, huyện V, tiến hành tuần tra kiểm soát trên tuyến đường ĐT379 thuộc thôn Đ, xã T, huyện V, tỉnh Hưng Yên (nay là thôn Đ, xã V, tỉnh Hưng Yên). Lực lượng Công an phát hiện Chu Văn H sinh năm 1979, có hộ khẩu thường trú: xóm Làng Đông, xã C, huyện P, tỉnh Thái Nguyên đang điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha màu xanh - xám - đen, gắn biển số 20E1-449.05 có biểu hiện nghi vấn tàng trữ trái phép chất ma túy, nên đã yêu cầu dừng xe kiểm tra, phát hiện tại túi áo khoác phía trước bên trái Huấn đang mặc có 01 gói giấy màu vàng, bên trong chứa chất màu trắng dạng cục và bột; 01 gói giấy màu trắng, bên trong chứa 01 viên nén nhỏ màu hồng. H khai nhận 02 gói giấy trên đều chứa chất ma tuý loại Heroine và ma tuý loại “ngựa” do H mua của một thanh niên không quen biết với giá 100.000 đồng, với mục đích để sử dụng. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với H và niêm phong toàn bộ số ma tuý trong phong bì dán kín ghi ký hiệu MT. Ngoài ra tổ công tác còn tạm giữ xe môtô 20E1 - 449.05; 01 chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy số 000165 mang tên Chu Minh T1; 01 căn cước công dân số 19079006417 mang tên Chu Văn H. Ngày 07/5/2025 Tổ công tác thuộc Phòng C - Công an tỉnh H đã bàn giao Chu Văn H cùng toàn bộ hồ sơ vụ việc đến Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh H để giải quyết theo thẩm quyền.

Cùng ngày 07/5/2025 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh H đưa Chu Văn H đi xét nghiệm chất ma túy có trong cơ thể và trưng cầu giám định về ma túy đối với vật chứng đã thu giữ trong niêm phong ký hiệu MT. Kết quả xét nghiệm sinh hóa của Phòng khám Đ – Công ty TNHH V xác định: Chu Văn H dương tính với ma túy loại Heroin (MOP) và ma túy đá (MET). Tại bản kết luận giám định số 387/KL-KTHS ngày 10/5/2025 của Phòng K Công an tỉnh H kết luận: Mẫu chất màu trắng dạng cục và bột được ký hiệu MT1, trong niêm phong ghi ký hiệu MT có khối lượng là 0,141 gam là ma tuý, loại Heroine (H); Mẫu chất dạng viên nén màu hồng được ký hiệu MT2, trong niêm phong ghi ký hiệu MT có khối lượng là 0,039 gam là ma tuý, loại Methamphetamine; H3 lại mẫu vật sau giám định gồm: 01 niêm phong ghi số 387/KL-KTHS bên trong có 0,126gam ma túy, loại Heroine (H), ghi ký hiệu MT1, trong niêm phong ghi ký hiệu MT; 0,027 gam là ma tuý, loại Methamphetamine, ghi ký hiệu MT2, trong niêm phong ghi ký hiệu MT; các mảnh giấy gói ma túy và 01 vỏ niêm phong mẫu vật gửi giám định

Quá trình điều tra H khai nhận: Bản thân là lao động tự do, không có chỗ ở ổn định và đã sử dụng trái phép chất ma túy từ năm 2023 đến nay. Khoảng 22 giờ 30 phút ngày 06/5/2025, H điều khiển xe môtô biển số 20E1 - 449.05 đi trên đường ĐT379 theo hướng Hưng Yên đi thành phố Hà Nội, mục đích đi tìm mua ma túy về sử dụng. Khi H đi đến địa phận xã T, huyện V, tỉnh Hưng Yên (nay là xã V, tỉnh Hưng Yên), H gặp một nam thanh niên không quen biết đang đứng ở ven đường. Huấn nghĩ người này có ma túy bán nên điều khiển xe lại gần và hỏi: “Có bán hàng không” (ý hỏi mua ma túy), nam thanh niên trả lời: “mua bao nhiêu”, H bảo mua 100.000 đồng ma túy loại “Heroine” và ma tuý loại “Ngựa”. Nam thanh niên nói đưa tiền trước nên H đưa cho người này 100.000đ. Người thanh niên cầm tiền rồi đưa cho H 02 gói giấy gồm: 01 gói giấy màu vàng bên trong có chứa chất màu trắng dạng cục và bột và 01 gói giấy màu trắng bên trong có 01 viên nén màu hồng. H cầm 02 gói này cất vào túi áo khoác phía trước bên trái đang mặc rồi điều khiển xe mô tô đi tìm nơi vắng người để sử dụng. Khi H đang đi trên đường ĐT 379 thuộc xã T, huyện V, tỉnh Hưng Yên (nay là xã V, tỉnh Hưng Yên) thì bị lực lượng Công an kiểm tra bắt quả tang, thu giữ các vật chứng trên.

Đối với người thanh niên đã bán trái phép chất ma tuý cho H, do không xác định được nhân thân, lai lịch. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh H đã tiến hành rà soát camera an ninh tại khu vực nói trên, nhưng không thu thập được hình ảnh có liên quan, nên không có căn cứ để xác minh, xử lý.

Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius biển số 20E1-449.05; số khung: RLCUE3740NY169052, số máy: E32VE671964 được xác định: xe đăng ký mang tên anh Chu Minh T1 sinh ngày 20/9/2004 ở xóm L, xã C, huyện P, tỉnh Thái Nguyên (nay là xóm L, xã V, tỉnh Thái Nguyên) là con trai của Chu Văn H. Anh T1 khai đầu tháng 5 năm 2025 do anh được nghỉ học không sử dụng đến xe nên anh đã cho H mượn xe và đưa giấy tờ xe cho H quản lý sử dụng để đi làm ở tỉnh Hưng Yên. Kết quả tra cứu chiếc xe không có trong cơ sở dữ liệu xe máy vật chứng nên ngày 21/7/2025 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh H đã trả lại cho anh T1 chiếc xe mô tô và 01 chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy mang tên Chu Minh T1.

Tại bản cáo trạng số 09/CT-VKSKV4 ngày 31/7/2025 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện khu vực 4, tỉnh Hưng Yên đã truy tố bị cáo Chu Văn H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay:

- Bị cáo H thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố, tỏ thái độ ăn năn hối cải, xin được giảm nhẹ hình phạt.

- Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố như bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng:

- Điểm i khoản 1 điều 249; Điểm s khoản 1 điều 51; Điều 38; Điểm a, b khoản 1 Điều 46; điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự.

- Khoản 1, điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106; Điều 135; Điều 136; Khoản 1 Điều 292; khoản 1 Điều 293 của Bộ luật tố tụng hình sự;

- Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên bố bị cáo Chu Văn H phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

Xử phạt bị cáo Chu Văn H từ 01 năm 09 tháng tù đến 02 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam 07/5/2025.

Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu cho tiêu hủy 01 phong bì niêm phong hoàn lại mẫu vật gửi giám định ghi số 387/KL-KTHS bên trong có 0,126 gam ma túy loại Heroine; 0.027gam ma túy loại Methamphetamin trong niêm phong ghi ký hiệu MT; các mảnh giấy gói ma túy và 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi giám định. Trả lại bị cáo 01 căn cước công dân số 19079006417 mang tên Chu Văn H.

Về án phí: Buộc bị cáo Chu Văn H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

- Bị cáo nhất trí, không tranh luận với luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng, bị cáo nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật và rất hối hận, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về tố tụng:

- Cơ quan điều tra, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân và kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo không có ý kiến khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện. Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều đảm bảo đúng quy định pháp luật.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người chứng kiến vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Bị cáo, đại diện Viện kiểm sát đề nghị xét xử vụ án vắng mặt họ. Xét thấy những người vắng mặt đã được Tòa án triệu tập hợp lệ, đã có lời khai trong hồ sơ vụ án, sự vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án nên HĐXX căn cứ khoản 1 điều 292, khoản 1 điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự tiếp tục xét xử vụ án.

. Về hành vi phạm tội:

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, bản kết luận giám định, lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người chứng kiến và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được Cơ quan điều tra thu thập theo quy định của pháp luật. Do đó HĐXX đã có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 22 giờ 30 phút ngày 06/5/2025, tại đường Đ thuộc xã V, tỉnh Hưng Yên, tổ công tác thuộc phòng Cảnh sát cơ động Công an tỉnh H phối hợp cùng Công an xã T tuần tra, bắt quả tang Chu Văn H có hành vi cất giữ trái phép trên người 0,141 gam ma tuý, loại Heroine và 0,039gam ma tuý, loại Methamphetamine. Mục đích Huấn cất giấu số ma tuý trên là để sử dụng.

Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi cất giữ ma túy để sử dụng là vi phạm pháp luật nhưng do bị cáo nghiện ma túy nên vẫn cố ý tàng trữ trái phép 02 chất ma túy để sử dụng. Hành vi này của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 BLHS. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Hưng Yên truy tố bị cáo về tội danh và điều luật này là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của nhà nước đối với các chất ma túy. Hành vi của bị cáo còn huỷ hoại sức khoẻ, trí lực của chính bị cáo, phá hoại kinh tế, hạnh phúc gia đình cũng như làm phát sinh các loại tội phạm khác. Chỉ vì để thoả mãn nhu cầu sử dụng ma túy của bản thân bị cáo bất chấp tác hại của ma tuý, coi thường pháp luật, cố ý tàng trữ để sử dụng nên cần xử lý bị cáo bằng một bản án thật nghiêm.

Đối với người thanh niên đã bán ma túy cho H, do không xác minh được nhân thân, lý lịch nên không có căn cứ xử lý.

. Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Về nhân thân: Bị cáo là đối tượng nghiện chất ma túy, có nhân thân xấu từng bị Công an phường T, thành phố T xử phạt hành chính về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy và bị UBND xã C, huyện P, tỉnh Thái Nguyên ra Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã C về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy, bị cáo đều đã chấp hành xong.

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

. Về hình phạt:

Căn cứ tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Xét thấy cần xử phạt bị cáo bằng hình phạt tù, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định để bị cáo tránh xa ma túy và để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội, cũng như góp phần phòng ngừa tội phạm chung.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập ổn định và không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

. Về biện pháp tƣ pháp và xử lý vật chứng:

Đối với 01 căn cước công dân số 19079006417 mang tên Chu Văn H, không liên quan đến hành vi phạm tội sẽ trả lại bị cáo.

Đối với 01 phong bì niêm phong hoàn lại mẫu vật gửi giám định ghi số 387/KL-KTHS bên trong có 0,126 gam ma túy loại Heroine; 0.027gam ma túy loại Methamphetamin trong niêm phong ghi ký hiệu MT; các mảnh giấy gói ma túy và 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi giám định, đây là chất Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành và không còn giá trị sử dụng nên sẽ tịch thu cho tiêu hủy.

. Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ:

- Điểm i khoản 1 Điều 249; Điều 38; Điểm a, b khoản 1 Điều 46; điểm c khoản 1 Điều 47; điểm s khoản 1 điều 51 của Bộ luật hình sự;

- Khoản 1, điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106; Điều 135; Điều 136; Khoản 1 Điều 292, khoản 1 Điều 293; Điều 299; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự;

- Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

2. Tuyên bố: Bị cáo Chu Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy".

3. Xử phạt: Bị cáo Chu Văn H 01 năm 09 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 07/5/2025.

4. Về biện pháp tƣ pháp và xử lý vật chứng:

Tịch thu cho tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong hoàn lại mẫu vật gửi giám định ghi số 387/KL-KTHS bên trong có 0,126 gam ma túy loại Heroine; 0.027gam ma túy loại Methamphetamin trong niêm phong ghi ký hiệu MT; các mảnh giấy gói ma túy và 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi giám định.

Trả lại bị cáo 01 căn cước công dân số 19079006417 mang tên Chu Văn H.

(Tình trạng số lượng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 22/8/2025 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh H và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 4, tỉnh Hưng Yên)

5. Về án phí: Bị cáo Chu Văn H phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Cỡ chữ