vanban.org

Bản án 25/2025/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 8 - Gia Lai, tỉnh Gia Lai Tuyên án 28/07/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm b khoản 2 Điều 260; Các Điều 38, 50; các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Tuyên bố bị cáo H Văn T phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Xử phạt: Bị cáo H Văn T 03 (ba) năm tù. Thời hạn chấp Hnh hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt đi chấp Hnh án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "HÀ VĂN T - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Điểm b khoản 2 Điều 260; Các Điều 38, 50; các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự
HUYỆN Đ
TỈNH G
––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 25/2025/HS-ST
Ngày 28/4/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ, TỈNH G

- THnh phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Đặng Anh Việt.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Cần và bà Phạm Thị Sâm.

- Thư ký phiên tòa: Ông Phùng Lê Lâm là Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh G.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ tham gia phiên tòa: Ông Bùi Ngọc Trung - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 4 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 16/2025/TLST-HS, ngày 20 tháng 3 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 21/2025/QĐXXST-HS, ngày 15 tháng 4 năm 2025 đối với bị cáo:

H Văn T, tên gọi khác: Không, sinh ngày 06 tháng 7 năm 1988, tại huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa.

Nơi cư trú: Thôn Quyết Thắng, xã I, huyện Đ, tỉnh G; nghề nghiệp: làm nông; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Thái; giới tính: nam; tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông H Văn V (đã chết) và bà Ngân Thị N, sinh năm 1964. Bị cáo có vợ tên là H Thị T, sinh năm 1981; Bị cáo có 02 người con, con lớn sinh năm 2009, con nhỏ sinh năm 2019.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 17/02/2025 cho đến nay.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Cháu Vi Văn Nam (đã chết)

- Đại diện hợp pháp của bị hại: Anh Vi Văn H, sinh năm 1977 và chị H Thị Huỳnh, sinh năm 1978.

Cùng trú tại: Thôn Quyết Thắng, xã I, huyện Đ, tỉnh G (là cha mẹ đẻ của bị hại).

Chị H Thị H có mặt. Anh Vi Văn H vắng mặt.

1

- Người làm chứng: Cháu Trịnh Vũ Hoàng Huy, sinh ngày 19/5/2009. Đại diện hợp pháp của cháu Trịnh Vũ Hoàng Huy là chị Vũ Thị Tâm, sinh năm 1985 (là mẹ đẻ của cháu Huy).

Cùng trú tại: Thôn Quyết Thắng, xã I, huyện Đ, tỉnh G (là cha mẹ đẻ của bị hại). Đều vắng mặt.

- Người phiên dịch tiếng dân tộc Thái: Ông Cầm Bá Phong - Người dân tộc Thái.

Trú tại: Làng H’Rang, xã Ia Kriêng, huyện Đ, tỉnh G. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào chiều ngày 18/01/2025, H Văn T đi uống rượu tại nH bạn tại thôn Đoàn Kết, xã I, huyện Đ, tỉnh G. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, sau khi sử dụng rượu có nồng độ cồn là 1,095mg/l thì điều khiển xe mô tô BKS: 81K4-1850 đi trên đoạn đường quốc lộ 19 theo hướng xã I đi tHnh phố Pleiku để về nH tại thôn Quyết Thắng, xã I, huyện Đ, tỉnh G. Khi đến đoạn km 206+720 đường quốc lộ 19 thuộc thôn Quyết Thắng, xã I, huyện Đ, tỉnh G, do đã uống nhiều rượu nên không còn tỉnh táo, không tập trung chú quan sát về phía trước nên đã không phát hiện được cháu Trịnh Vũ Hoàng Huy, sinh năm 2009 và cháu Vi Văn Nam, sinh năm 2012 cùng trú tại thôn Quyết Thắng, xã I, huyện Đ đang đi bộ cùng chiều phía trước dẫn đến T đã tông vào phía sau cháu Vi Văn Nam. Sau va chạm, cháu Nam cùng với H Văn T và phương tiện bị ngã xuống đường. Hậu quả, cháu Nam bị thương được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện đến ngày 22/01/2025 thì chết. Sau khi tiếp nhận được tin báo, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh G và chính quyền địa phương tiến Hnh khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi.

Ngày 22/01/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ trưng cầu giám định xác định nguyên nhân chết của cháu Vi Văn Nam. Tại kết luận giám định pháp y về tử thi số 165 ngày 11 tháng 02 năm 2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh G, kết luận:

1. Các kết quả chính:

- Vùng đỉnh: Mô cơ dưới da vùng đỉnh bầm tụ máu; xương sọ vùng đỉnh nứt vỡ phức tạp đo được kích thước (2,5x1)cm; có máu lỏng, máu đông chảy ra qua chỗ nứt vỡ.

- Mũi miệng chảy dịch đỏ.

2. Kết luận: Nguyễn nhân chết: Chấn thương sọ não.

2

- Kết quả kiểm tra nồng độ cồn của H Văn T là 1,095 mg/l khí thở.

Tại Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ, H Văn T đã khai nhận T bộ Hnh vi phạm tội nêu trên.

Quá trình điều tra vụ án, tại phiên tòa bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại đều đồng ý và không khiếu nại về các Kết luận giám định.

Tại Bản Cáo trạng số: 17/CT-VKS, ngày 10/3/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, tỉnh G đã truy tố bị cáo H Văn T, về tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên toà, Kiểm sát viên thực Hnh quyền công tố đề nghị:

- Về tội danh: Đề nghị tuyên bố bị cáo H Văn T phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

- Về mức hình phạt:

+ Đề nghị áp dụng: điểm b khoản 2 Điều 260; các Điều 38, 50; các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

+ Đề nghị xử phạt: Bị cáo H Văn T: Từ 03 (ba) năm tù đến 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù.

Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

- Về xử lý vật chứng của vụ án: Đối với 01 (một) chiếc xe BKS: 81K4-1850 số khung: 50FMG7000627, số máy: 58TT5X000627, nhãn hiệu SAVANT, số loại C100. Quá trình điều tra xác định, chiếc xe mô tô này thuộc sở hữu của bị cáo H Văn T. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã trả lại chiếc xe trên cho H Văn T là có căn cứ. Vì vậy không đề cập đến.

- Về trách nhiệm dân sự: Sau khi sự việc xảy ra H Văn T và đại điện hợp pháp của bị hại đã tự nguyện thỏa thuận giải quyết phần dân sự, theo đó T đã bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 75.000.000đ (bảy mươi lăm triệu đồng) bao gồm tất cả các chi phí và tiền tổn thất tinh thần. Đại diện hợp pháp của bị hại đã nhận bồi thường và không yêu cầu gì. Vì vậy, không đề cập giải quyết.

Trước khi Hội đồng xét xử nghị án bị cáo H Văn T nói lời sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

3

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Vào khoảng 20 giờ, ngày 18/01/2025, H Văn T, sau khi uống rượu đã điều khiển xe mô tô BKS: 81K4-1850, lưu thông trên đường quốc lộ 19 theo hướng xã I đi tHnh phố Pleiku. Khi đi đến đoạn đường thuộc thôn Quyết Thắng, xã I, huyện Đ, tỉnh G, bị cáo thiếu quan sát, không làm chủ được tốc độ nên đã tông vào cháu Vi Văn Nam đang đi bộ cùng chiều phía trước. Hậu quả, cháu Vi Văn Nam tử vong do chấn thương sọ não. Vào thời điểm bị cáo gây tai nạn nồng độ cồn là 1,095 mg/l khí thở.

Lời khai nhận T bộ Hnh vi phạm tội của bị cáo H Văn T trong quá trình điều tra vụ án và tại phiên toà là phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được trong hồ sơ vụ án. Nguyên nhân dẫn đến vụ tai nạn giao thông là do bị cáo T đã uống rượu với nồng độ 1,095mg/l khí thở nhưng vẫn điều khiển xe mô tô tham gia giao thông và không làm chủ tốc độ, thiếu quan sát nên đã tông vào cháu Vi Văn Nam đang đi bộ cùng chiều.

Hnh vi của bị cáo H Văn T là nguy hiểm cho xã hội, đã vi phạm vào khoản 2 Điều 9 Luật trật tự, an T giao thông đường bộ năm 2024 và khoản 6 Điều 5 Luật phòng, chống tác hại của rượu, bia năm 2019. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận Hnh vi của bị cáo H Văn T đã phạm vào tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, tỉnh G đã truy tố là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xem xét nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo H Văn T. Bị cáo T có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Sau khi phạm tội, bị cáo đã thỏa thuận bồi thường theo yêu cầu của gia đình bị hại. Quá trình điều tra vụ án và tại phiên tòa bị cáo đã tHnh khẩn khai báo và ăn năn hối cải về Hnh vi phạm tội của mình. Tại phiên tòa đại diện hợp pháp của bị hại xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Gia đình bị cáo thuộc diện hộ cận nghèo. Vì vậy, cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 cho bị cáo là phù hợp.

Hội đồng xét xử xét thấy, Hnh vi của bị cáo H Văn T là nguy hiểm cho xã, bị cáo sử dụng đồ uống có cồn với nồng độ cao, gây tai nạn làm chết 01 người, Hnh vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp rất nghiêm trọng. Vì vậy, cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để bị cáo cải tạo, sửa chữa lỗi lầm và răn đe, phòng ngừa tội phạm.

4

Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng của vụ án: Đối với 01 (một) chiếc xe BKS: 81K4-1850 số khung: 50FMG7000627, số máy: 58TT5X000627, nhãn hiệu SAVANT, số loại C100. Quá trình điều tra xác định, chiếc xe mô tô này thuộc sở hữu của bị cáo H Văn T. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã trả lại chiếc xe trên cho H Văn T là có căn cứ. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét.

Về trách nhiệm dân sự: Sau khi sự việc xảy ra H Văn T và đại điện hợp pháp của bị hại đã tự nguyện thỏa thuận giải quyết phần dân sự, theo đó T đã bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 75.000.000đ (bảy mươi lăm triệu đồng) bao gồm tất cả các chi phí và tiền tổn thất tinh thần. Đại diện hợp pháp của bị hại đã nhận bồi thường và không yêu cầu gì thêm. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Bị cáo H Văn T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về Hnh vi, quyết định tố tụng của Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về Hnh vi, quyết định của Cơ quan tiến Hnh tố tụng, Người tiến Hnh tố tụng. Do đó, các Hnh vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến Hnh tố tụng, Người tiến Hnh tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Điểm b khoản 2 Điều 260; Các Điều 38, 50; các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;

- Khoản 2 Điều 9 Luật trật tự, an T giao thông đường bộ năm 2024;

- Khoản 6 Điều 5 Luật phòng, chống tác hại của rượu, bia năm 2019;

- Khoản 2 Điều 136 của Bộ Luật tố tụng Hình sự năm 2015. Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Tuyên bố bị cáo H Văn T phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt: Bị cáo H Văn T 03 (ba) năm tù. Thời hạn chấp Hnh hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt đi chấp Hnh án.

5

- Về án phí: Buộc bị cáo H Văn T phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 28/4/2025) để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh G xét xử phúc thẩm. Đại diện hợp pháp của bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án này được thi Hnh theo quy định tại Điều 2 Luật thi Hnh án dân sự thì người được thi Hnh án dân sự, người phải thi Hnh án dân sự có quyền thỏa thuận thi Hnh án, quyền yêu cầu thi Hnh án, tự nguyện thi Hnh án hoặc bị cưỡng chế thi Hnh án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi Hnh án dân sự; thời hiệu thi Hnh án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi Hnh án dân sự. Nơi nhận:

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- VKSND huyện Đ;

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà

- Bị cáo;

- Những người TGTT khác;

- TAND tỉnh G;

- THADS;

- Lưu hồ sơ/VP.

Trần Đặng Anh Việt

6

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

7

Nơi nhận:

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- VKSND tHnh phố Pleiku;

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà

- Công an tHnh phố Pleiku;

- Bị cáo;

- Những người TGTT khác;

- TAND tỉnh G;

- THADS;

- Lưu hồ sơ/VP.

Cỡ chữ