- Tranh chấp gì? án hình sự — "vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 44/2025/TLST-HS ngày 27/06/2025 - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật s…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Ngọc T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 260 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 TỈNH NINH BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 25/2025/HS-ST Ngày: 22/8/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6, TỈNH NINH BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Đặng Trần Anh Dũng.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Chu Minh Đức và ông Nguyễn Đức Long.
- Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Giang Yên – Thư ký Toà án nhân dân Khu vực 6, tỉnh Ninh Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 6, tỉnh Ninh Bình tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Quyên – Kiểm sát viên.
Trong ngày 22/8/2025, tại trụ sở Toà án nhân dân Khu vực 6, tỉnh Ninh Bình – Cơ sơ Bình Lục xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 44/2025/TLST-HS ngày 27/06/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 23/2025/QĐXXST - HS ngày 08/08/2025 đối với bị cáo:
Trần Ngọc T, sinh năm 1995 tại xã A, huyện B, tỉnh Hà Nam nay là xã B, tỉnh Ninh Bình; giới tính: Nam; nơi đăng ký thường trú và cư trú: Thôn A, xã A, huyện B, tỉnh Hà Nam nay là thôn A, xã B, tỉnh Ninh Bình; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; Đảng, đoàn: Không; con ông Trần Ngọc C và bà Đào Thị Th; có vợ là Nguyễn Thị A và 01 con sinh năm 2020. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. (có mặt).
* Người bị hại: Ông Tống Đức T1 (đã chết).
+ Người đại diện hợp pháp của người bị hại: Ông Tống Đức T2, sinh năm 1964; địa chỉ: Tổ dân phố B, thị trấn B, huyện B, tỉnh Hà Nam nay là tổ dân phố B, xã B, tỉnh Ninh Bình. (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bị cáo Trần Ngọc T đã được cấp Giấy phép lái xe ô tô hạng B2 có giá trị đến ngày 24/11/2031. Khoảng 07 giờ 10 phút ngày 01/5/2025, T điều khiển xe ô tô biển số 90A-181.xx chở khách đi vào đường trong khu vực đô thị Tây Bình Mỹ thuộc địa phận thị trấn B, huyện B, tỉnh Hà Nam theo hướng Quốc lộ 21 đi Quốc lộ 37B, là đường đôi, có dải phân cách cứng giữa đường, mỗi chiều có hai làn đường. T điều khiển xe đi ở giữa làn đường bên trái chiều đường bên phải hướng đi với tốc độ khoảng 60Km/h, tuy nhiên T không chú ý quan sát biển cảnh báo nguy hiểm đặt tại ven đường. Khi T đi đến nơi bắt đầu điểm đứt đoạn của dải phân cách cứng giữa đường, là khu vực ngã tư nội bộ khu đô thị Tây Bình Mỹ giữa đường nối QL21 - QL37B với đường nối từ đường Ngô Gia Bảy đi đường Trần Văn Chuông thì có xe mô tô biển số 90B1-384.xx do ông Tống Đức T1 điều khiển đi hướng đường Ngô Gia Bảy đi đường Trần Văn Chuông vào ngã tư giao cắt. Do không chú ý quan sát và không giảm tốc độ từ trước nên khi ông T1 đi vào khu vực ngã tư đường nội bộ khu đô thị Tây B, T chỉ kịp đánh lái xe ô tô đi sang phải để tránh nhưng do khoảng cách quá gần nên phần bên trái đầu xe ô tô do T điều khiển đã đâm vào phần bên phải xe mô tô do ông T1 điều khiển làm ông T1 và xe mô tô đổ, ngã ra đường. T hoảng loạn đạp chân ga nên ô tô vẫn đi lên vỉa hè bên phải rồi đi vào trong bãi đất trống khoảng 80m thì xe mới dừng lại. T xuống xe quay lại kiểm tra rồi cùng người dân đưa ông T1 đi cấp cứu. Hậu quả: Ông Tống Đức T1 bị tử vong trên đường đi cấp cứu; hai phương tiện liên quan bị hư hỏng.
Ngay sau khi nhận thông tin vụ tai nạn, Cơ quan Cảnh sát điều tra - tỉnh Hà Nam đã phối hợp với các cơ quan chức năng cùng thành lập Đoàn khám nghiệm đảm bảo đúng thành phần theo quy định của pháp luật để thực hiện việc khám nghiệm hiện trường; khám nghiệm tử thi, làm rõ nguyên nhân tử vong của ông Tống Đức T1; khám nghiệm phương tiện liên quan; rà soát, thu giữ các camera ghi lại diễn biến vụ tai nạn; lấy lời khai người liên quan, người làm chứng.
* Kết quả khám nghiệm hiện trường: Vụ tai nạn giao thông xảy ra tại khu vực giao nhau giữa đường nội bộ của khu đô thị Tây Bình Mỹ, huyện B, tỉnh Hà Nam. Các đường giao nhau có đặc điểm:
- Đường nối Quốc lộ 21 - Quốc lộ 37B là lạo đường đôi phân cách với nhau bởi dải phân cách cố định dạng bê tông bó vỉa rộng 2m. Chiều đường từ QL21 - QL37B bố trí 02 làn xe lần lượt từ trái sang phải rộng 3,5m và 3,65m phân cách với nhau bởi vạch đơn nét đứt màu vàng rộng 0,15m dài 2m, chiều đường này đặt biển cảnh bảo nguy hiểm “Giao nhau với đường không ưu tiên” (W.207a) và biển cảnh báo “Đường người đi bộ cắt ngang” (W.224); tiếp giáp với khu vực đường giao nhau mặt đường kẻ hệ thống vạch giảm tốc gồm 05 vạch liền màu vàng, mỗi vạch rộng 0,2m, cách đều 0,4m trên diện 2,6m; phía trước trước hệ thống gờ giảm tốc bố trí vạch kẻ sơn trắng dành cho người đi bộ sang đường. Tại đoạn đường này để khoảng mở giữa hai chiều đường rộng 50,1m. Đường nối QL21 - QL37B chạy theo hướng Nam - Bắc.
- Đường nối từ Ngô Gia Bảy đi Trần Văn Chuông chạy theo hướng Tây - Đông, được bố trí gồm 02 đường chạy song song phân cách bởi vỉa hè và mương nước. Hai đường này là dạng đường hai chiều trải bê tông nhựa phẳng rộng 6,55m, phân cách hai chiều đường của mỗi đường bởi vạch đơn nét đứt màu vàng rộng 0,15m dài 1m cách đều 2m. Đường tiếp giáp QL21 phía từ Ngô Gia Bảy đi Trần Văn Chuông có mép tiếp giáp với chiều đường QL37B - QL21 là 49m, gồm 02 làn đường rộng lần lượt là 3,2m tại chiều Tây - Đông của đường đặt biển cảnh báo nguy hiểm “Giao nhau với đường ưu tiên” (W.208) và hệ thống gờ giảm tốc gồm 05 vạch liền nét, mỗi vạch rộng 0,2m cách đều 0,4m trên diện 2,6m, mép gần nhất hệ thống gờ giảm tốc này cách mép đường tiếp giáp 10m.
Chọn mép giao giữa mép đường bên phải đường nối QL21 - QL37B theo hướng QL21 đi QL37B với mép đường tiếp giáp QL21 phía từ Ngô Gia Bảy đi Trần Văn Chuông làm điểm mốc.
Chọn mép đường bên phải đường nối QL21-QL37B theo hướng QL21 đi QL37B làm mép đường chuẩn.
- Ký hiệu số (1) là đám mảnh nhựa vỡ KT (21,5x6)m trên mặt đường, bao gồm nhựa vỡ từ 02 phương tiện liên quan, biển số 90A-191.21. Mảnh nhựa vỡ đầu to vuông góc cách điểm mốc về phía QL37B là 6,2m, mảnh vỡ gần nhất đo cách mép chuẩn là 0,7m, cuối đám mảnh vỡ kết thúc tại vị trí xe mô tô biển số 90B1-384.37 đổ trên mặt đường.
- Ký hiệu số (2) là vết cày kích thước (18x0,01)m trên mặt đường, vết có hướng QL21 - QL37B, điểm đầu vết đo cách mép chuẩn là 4,36m, đo cách mảnh vỡ đầu của mảnh nhựa vỡ (1) về phía QL37B là 2m, điểm cuối vết đo cách mép chuẩn là 1,67m.
- Ký hiệu số (3) là xe mô tô biển số 90B1-384.37 sau tai nạn đổ bên trái trên mặt đường, đầu xe quay phía đi QL37B chếch vào mép chuẩn, đuôi xe quay về phía đi QL21, tâm trục bánh trước và tâm trục bánh sau đo cách mép chuẩn là 1,1m và 2,15m. Đầu giá để chân trước bên trái tiếp xúc với mặt đường trùng với điểm cuối vết cày số (2).
- Ký hiệu số (4) là vết trượt đổ rạp cây cỏ KT (54,4x0,2)m nằm trên phần vỉa hè và trên bãi đất trống nằm bên phải mép chuẩn theo hướng QL21 - QL37, vết có hướng từ mép chuẩn đi bãi đất trống. Điểm gần nhất đầu vết đo cách mép chuẩn là 3,5m, đo cách tâm trục bánh trước xe (3) về phía bãi đất trống là 8m, cuối vết tại vị trí mặt lăn của bánh lốp phía sau bên trái xe ô tô 90A-181.21 tiếp xúc với nên đất của bãi đất trống.
- Ký hiệu số (5) là vết trượt đổ rạp cây cỏ kích thước (54,5x0,2)m nằm trên phần vỉa hè và trên bãi đất trống nằm bên phải mép chuẩn theo hướng QL21 - QL37B, vết có hướng từ mép chuẩn đi bãi đất trống. Điểm gần nhất đầu vết đo cách điểm gần nhất đầu vết (4) về phía đi đường Trần Văn Chuông là 1,4m, đo cách tâm trục bánh trước xe (1) về phía bãi đất trống là 8,8m, cuối vết tại vị trí mặt lăn của bánh lốp sau bên phải xe ô tô biển số 90A-181.21 tiếp xúc với nền đất của bãi đất trống.
- Ký hiệu số (6) là xe ô tô biển số 90A-181.21 sau tai nạn nằm trên phần bãi đất trống bên phải mép chuẩn theo hướng QL21 - QL37B, đầu xe quay hướng đi QL37B, đuôi xe quay hướng đi QL21, tâm trục bánh trước bên trái và tâm trục bánh sau bên trái đo cách mép chuẩn là 31,3m và 31m; mặt lăn của bánh lốp sau bên trái và bên phải tiếp xúc với nền đất trùng với vị trí cuối vết (4), (5) (bút lục số 08-10).
Để phục vụ công tác điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh Hà Nam đã tạm giữ các phương tiện, tài liệu như sau: 01 xe ô tô nhãn hiệu Huyndai Accent, màu sơn: Trắng, biển số 90A-181.21 cùng đăng ký xe mang tên chủ xe Trần Ngọc T. 01 Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ của xe ô tô biển số 90A-181.xx. 01 Giấy chứng nhận điện tử (chuyển đổi) bảo hiểm xe ô tô số 250019263 của xe ô tô biển số 90A-181.xx. 01 Giấy phép lái xe hạng B2 mang tên Trần Ngọc T, có giá trị đến ngày 24/11/2031. 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX, màu sơn: Đỏ-Xám-Đen, biển số 90B1-384.xx cùng đăng ký xe mang tên chủ xe Tống Đức T1. 01 Giấy phép lái xe hạng A1 mang tên Tống Đức T1. 01 file video clip có thời lượng 31 giây, được trích xuất từ camera A tại ngã tư đường nội bộ khu đô thị Tây Bình Mỹ thuộc tổ dân phố B, thị trấn B, huyện B, tỉnh Hà Nam ghi lại diễn biến vụ tai nạn giao thông ngày 01/5/2025. File được lưu trữ trong đĩa DVD được niêm phong ký hiệu “TN1”. Sau khi khai thác được niêm phong trong phong bì ký hiệu “ĐKT1). 01 file video clip do Trần Ngọc T giao nộp từ camera hành trình của xe ô tô biển số 90A-181.21, sau khi khai thác được lưu trữ trong đĩa DVD được niêm phong ký hiệu “ĐKT2”.
* Kết quả khám nghiệm phương tiện
- Xe mô tô biển số 90B1-384.xx: Ốp gương và kính gương chiếu hậu bên phải vỡ khỏi xe chỉ còn lại cần gương. Phanh tay phía bên phải ghi - đông bị đẩy cong từ trên xuống dưới, từ phải qua trái làm cho đầu mút phanh tay cao cách đất 86cm, điểm cong gập nhất cách đầu ngoài cùng phanh tay này 11cm. Phần gương chiếu hậu bên trái bị đẩy từ trước về sau làm tì sát cần gương vào phần ốp nhựa phía trước bên trái ghi - đông. Tại vị trí cong theo cấu tạo của càn gương có vết mài sạt KT (3,5x0,7)cm hướng từ dưới lên trên, từ trái qua phải, bề mặt bám dính bụi đá, điểm thấp nhất cách mặt đất 104,5cm. Mặt ngoài phần bên trái nhựa ốp phía trước ghi đông và mặt ngoài mê ka cụm đèn chiếu sáng phía trước có đám vết mài sạt KT (26x7,5)cm hướng từ phải qua trái, bề mặt bám dính bụi đá, điểm thấp nhất cách mặt đất 96cm, điểm gần nhất cách đầu ngoài tay nắm bên trái ghi đông 16cm. Nhựa ốp phía dưới đồng hồ công tơ mét nứt vỡ nhựa KT (7,5x5,5)cm điểm thấp nhất cách mặt đất 90cm, điểm gần nhất cách đầu bên phải tay nắm ghi đông 29cm. Cánh yếm bên phải bung bật chốt giữ, nứt rách nhựa. Phần đầu trên cánh yếm để lại vết trượt mài sạt kích thước (29,5x10)cm vết có hướng từ trước về sau, từ dưới lên trên, bề mặt bong tróc sơn màu đỏ, điểm thấp nhất cách mặt đất 62cm, điểm gần nhất trùng với mép trước cánh yếm này. Phần dưới liền kề cách 12cm có vết trượt mài sạt làm vỡ nhựa kích thước (15x12)cm hướng từ trước về sau, điểm thấp nhất cách mặt đất 38cm, mép cuối trùng với cạnh sau cánh yếm trùng với vị trí vỡ nhựa. Nhựa ốp phía bên phải sườn xe và thân yếm bên phải nứt vỡ đẩy dồn từ phải qua trái KT (43x18)cm, vị trí thấp nhất của vết vỡ cách mặt đất 37cm và cách mép sau cánh yếm bên phải 17cm. Tại vị trí nhựa vỡ và xung quanh vết vỡ để lại vết trượt (61x16)cm hướng từ trước về sau, từ dưới lên trên, bề mặt bám dính sơn, matit màu trắng, điểm thấp nhất cách mặt đất 33cm, điểm gần nhất cách mép sau cánh yếm bên phải 9,5cm. Cạnh phải bàn đạp phanh chân để lại vết trượt (2,5x0,4)cm hướng từ dưới lên trên, bề mặt bám dính sơn, matit màu trắng. Đầu bên phải để chân trước không có cao su bọc ngoài. Mặt ngoài, mặt hướng phía dưới khung kim loại để chân để lại vết trượt KT (20x2)cm, hướng từ trước về sau, bề mặt bám dính sơn, ma tít màu trắng, điểm thấp nhất cách mặt đất 17,5cm, điểm cao nhất tại vị trí đất mút của để chân và cách mặt đất 30cm. Đầu để chân này bị đẩy từ trước về sau cách đầu bên phải trục bánh sau 50cm. Khung kim loại bảo vệ bên phải động cơ và khung kim loại đầu bên phải để chân trước với động cơ bị đẩy từ phải qua trái, tì sát vào bên trái vỏ động cơ. Ở mặt ngoài khung kim loại này để lại vết trượt KT (14x10)cm, hướng từ trước về sau, bề mặt bám dính sơn, ma tit màu trắng, điểm thấp nhất cách mặt đất là 25cm, điểm gần nhất trung với cạnh trước bên phải vỏ động cơ. Nhựa ốp ống xả bị đẩy xoay theo chiều kim đồng hồ. Tại mặt ngoài ốp nhựa này và ốp kim loại liền kề để lại vết trượt KT (22x7)cm, hướng từ trước về sau, bề mặt bám dính sơn ma tít màu trắng. Trong tư thế này điểm thấp nhất cách mặt đất 15cm, mép cuối vết trượt cách cạnh sau ống xả 17cm. Đầu bên trái để chân trước không có cao su bọc ngoài, giá để chân bị đẩy từ trước về sau làm cho tâm đầu giá để chân cách đầu bên phải trục bánh sau 55cm. Đầu giá để chân bị mài sạt KT (1,5x1,3)cm, hướng từ trước về sau, bề mặt bám dính bụi đá.
- Xe ô tô biển số 90A-181.xx: Kính chắn gió phía trước nứt vỡ dạng mạng nhện kích thước (110x75)cm, điểm thấp nhất cách mép dưới bên phải kính chắn gió này là 4cm. Tại góc bên phải của vết nứt vỡ có vết trượt làm lõm KT (23x20)cm hướng từ trước về sau, từ trái qua phải, bề mặt bám dính chất màu xanh, điểm thấp nhất của vết cách mép trước bên phải 23cm, mép cuối trùng với cạnh phải kính chắn gió. Phần bên trái nắp capo bẹp méo KT (60x45x2)cm, hướng từ trên xuống dưới, vị trí bẹp méo trùng với mép trước bên trái nắp capo và cao cách mặt đất 76cm, trên nền vết bẹp có vết trượt mất bụi KT (50x15)cm hướng từ trái qua phải, từ trước về sau, điểm đầu trùng với mép trước bên trái nắp capo, mép trên cuối vết trượt cách cạnh trên nắp capo là 35cm. Mê ka và pha đèn chiếu sáng phía trước bên trái vỡ T2 bộ. Mặt ngoài ốp kim loại đầu xe (phía trên ca lăng) để lại vết trượt KT (36x11)cm, bề mặt bám dính sơn màu đỏ, màu đen, vết có hướng từ dưới lên trên, từ trái sang phải, điểm thấp nhất cách mặt đất 67cm, điểm gần nhất cách mép dưới bên trái ốp kim loại này 10cm. Toàn bộ ba đờ sốc trước và ca lăng bung bật khỏi chốt hãm bắt giữ. Biển số phía trước bật rời khỏi ca lăng. Nhựa ốp phía dưới ba đờ sốc trước bật rời khỏi xe. Phần bên trái ba đờ sốc trước bị vỡ nhựa KT (80x35)cm, vị trí thấp nhất của vết vỡ cách mặt đất 30cm, vị trí gần nhất tiếp giáp với cạnh trước tai xe bên trái. Đầu bên trái khung kim loại bắt đỡ ba đờ sốc trước bị đẩy cong từ trước về sau KT (10x12)cm, điểm thấp nhất cách mặt đất 41cm, điểm đầu trùng với cạnh trái của khung kim loại này. Mặt ngoài phần cong bẹp của khung kim loại có vết trượt KT (10x12)cm, hướng từ trái qua phải, bề mặt bám dính nhựa màu đen, trắng, điểm thấp nhất cách mặt đất 41cm. Kiểm tra bên trong xe không bị bung túi khí.
* Kết quả giám định pháp y về tử thi: Ngày 01/5/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh Hà Nam trưng cầu Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hà Nam xác định nguyên nhân tử vong của ông Tống Đức T1. Tại Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 275/KL-KTHS ngày 06/5/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hà Nam kết luận: “1. Các kết quả chính
1.1. Kết quả khám nghiệm
- Các vết sây sát, tím, rách da, dập, rách niêm mạc, tụ máu tại vùng mặt, ngực, lưng trái, hông phải, hai tay, hai chân.
- Trật khớp C3-C4 làm cột sống cổ lỏng lẻo, mất vững; làm tụ máu cơ và tổ chức xung quanh; tủy sống đoạn tương ứng phù nề, bầm dập, tụ máu.
1.2. Kết quả xét nghiệm, giám định khác: Không.
2. Kết luận
- Kết luận nguyên nhân chết: Chấn thương cột sống - tủy sống cổ (Trật khớp, phù nề, bầm dập, tụ máu tủy sống đoạn C3-C4).
- Kết luận khác: Không”.
* Kết quả kiểm tra nồng độ cồn, chất ma túy: Kết quả đo nồng độ cồn của Trần Ngọc T vào lúc 08 giờ 16 phút ngày 01/5/2025 là: 0 mg/L khí thở. Kết quả xét nghiệm ma túy đối với Trần Ngọc T tại Hệ thống xét nghiệm Labtech vào lúc 19 giờ 45 phút ngày 01/5/2025: Âm tính.
Tại Bản kết luận giám định pháp hóa số 873/PY-XNĐH ngày 09/5/2025 của Viện Pháp y Quân đội kết luận: “- Tìm thấy Ethanol trong mẫu máu của Tống Đức T1, nồng độ 20,7mg/100ml máu. - Không tìm thấy các chất ma túy trong máu của Tống Đức T1”.
* Kết quả định giá thiệt hại của các phương tiện liên quan: Ngày 20/5/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh Hà Nam yêu cầu Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện B xác định trị giá thiệt hại đối với các phương tiện liên quan trong vụ tai nạn giao thông ngày 01/5/2025. Tại bản Kết luận định giá tài sản số 22/KL-HĐĐG ngày 23/5/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện B kết luận: “- Trị giá thiệt hại của:
+ 01 (một) ô tô nhãn hiệu Huyndai, số loại: Accent, màu sơn: Trắng, biển số 90A-181.xx, số máy: G4LCNG0056xx, số khung: RLUA641BANN0832xx, đã qua sử dụng là 13.108.000 đồng.
+ 01 (một) mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX, màu sơn: Đỏ-Xám-Đen, biển số 90B1-384.xx, đã qua sử dụng là 2.170.000 đồng.
Tổng cộng: 15.278.000 đồng”.
Tại Cáo trạng số 45/CT - VKS - TA ngày 27/06/2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Hà Nam đã truy tố Trần Ngọc T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 6, tỉnh Ninh Bình đã đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm a khoản 1 và khoản 5 Điều 260; các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65; Điều 41 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tuyên bố bị cáo Trần Ngọc T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Xử phạt bị cáo từ 01 năm 06 tháng tù đến 02 năm tù nhưng cho hưởng án treo; thời gian thử thách từ 03 năm đến 04 năm. Áp dụng hình phạt bổ sung cấm làm công việc lái xe ô tô đối với bị cáo từ 01 năm đến 02 năm. Trả lại bị cáo giấy phép lái xe ô tô đã thu giữ nhưng được giữ lại trong thời gian bị cáo bị áp dụng hình phạt bổ sung.
Tại phiên tòa, bị cáo T đã khai nhận hành vi vi phạm pháp luật khi lái xe ô tô như nội dung vụ án đã nêu ở trên và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét đến hoàn cảnh gia đình, nhân thân và việc tích cực bồi thường thiệt hại để giảm nhẹ hình phạt, tạo điều kiện cho bị cáo được hưởng án treo để có điều kiện chăm lo cho gia đình. Bị cáo đề nghị được trả lại giấy phép lái xe ô tô bị thu giữ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về các quyết định tố tụng của Cơ quan CSĐT Công an huyện B, tỉnh Hà Nam; Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Hà Nam; Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Hà Nam, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 6, tỉnh Ninh Bình và hành vi tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử vụ án là đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có khiếu nại gì về quyết định tố tụng, hành vi tố tụng.
Về tội danh: Hội đồng xét xử thấy có đủ căn cứ để xác định: Khoảng 07 giờ 10 phút ngày 01/5/2025, khi điều khiển xe ô tô biển số 90A-181.xx đi đến khu vực ngã tư đường nội bộ khu đô thị Tây Bình Mỹ thuộc tổ dân phố B, thị trấn B, huyện B, tỉnh Hà Nam; bị cáo Trần Ngọc T đã không chú ý quan sát, không giảm tốc độ đến mức có thể dừng lại một cách an T2 tại nơi đặt biển cảnh báo nguy hiểm “Giao nhau với đường không ưu tiên” (W.207a), biển cảnh báo “Đường người đi bộ cắt ngang” (W.224) và tại nơi đường bộ giao nhau cùng mức với đường bộ nên đã dẫn đến phần đầu bên trái xe ô tô do T điều khiển đâm va vào phần bên phải xe mô tô biển số 90B1-384.xx do ông Tống Đức T1 điều khiển đi theo hướng đường Ngô Gia Bảy đi đường Trần Văn Chuông, hậu quả làm ông Tống Đức T1 bị tử vong trên đường đi cấp cứu và gây thiệt hại về tài sản trị giá 2.170.000 đồng.
Hành vi nêu trên của bị cáo Trần Ngọc T đã vi phạm quy định tại các điểm a, b, d khoản 3 Điều 12 Luật Trật tự, an T2 giao thông đường bộ năm 2024, gây hậu quả làm chết 01 người. Do đó bị cáo Trần Ngọc T đã phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, bị cáo được hưởng tình tiết “Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại”, “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” và “Người đại diện hợp pháp của người bị hại đề nghị giảm nhẹ hình phạt; bị cáo đang nuôi con nhỏ, hoàn cảnh gia đình khó khăn và là lao động chính trong gia đình; bố bị cáo tham gia quân đội và được tặng bằng khen” theo quy định các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, bị cáo không phải chịu tình tiết nào.
Về hình phạt: Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội; vi phạm các quy định của pháp luật khi tham gia giao thông đường bộ gây tai nạn giao thông với hậu quả chết người. Hành vi phạm tội của bị cáo gây tổn hại lớn đến tinh thần cho gia đình bị hại. Tuy nhiên xét thấy sau khi gây tai nạn, bị cáo đã tích cực bồi thường thiệt hại cho gia đình nạn nhân và được đại diện gia đình nạn nhân đề nghị giảm nhẹ hình phạt; bị cáo có nơi cư trú rõ ràng và lần đầu phạm tội với lỗi vô ý, đã nhận thức được lỗi của mình và ăn năn hối cải; bị cáo đang nuôi con nhỏ, hoàn cảnh gia đình khó khăn và là lao động chính trong gia đình. Do vậy Hội đồng xét xử thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà chỉ cần tuyên một mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội, giao bị cáo cho UBND xã nơi cư trú giám sát giáo dục cũng đủ để răn đe và cải tạo bị cáo.
Về hình phạt bổ sung: Mặc dù bị cáo không hành nghề lái xe ô tô nhưng căn cứ mức độ lỗi của bị cáo trong vụ tai nạn; Hội đồng xét xử thấy cần phải áp dụng hình phạt bổ sung là cấm làm công việc lái xe ô tô đối với bị cáo trong một thời hạn nhất định để tránh gây nguy hại cho xã hội.
Về trách nhiệm dân sự: Sau khi gây tai nạn, bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho gia đình bị hại; người đại diện hợp pháp của bị hại không có yêu cầu gì về bồi thường trách nhiệm dân sự do vậy Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.
Về xử lý phương tiện và đồ vật, tài liệu liên quan đã tạm giữ:
- Quá trình điều tra xác định: Xe mô tô biển số 90B1-384.xx cùng đăng ký xe và Giấy phép lái xe hạng A1, mang tên Tống Đức T1 là tài sản, giấy tờ cá nhân hợp pháp của ông Tống Đức T1. Xe ô tô biển số 90A-181.xx cùng đăng ký xe và các tài liệu liên quan đến phương tiện là tài sản hợp pháp của Trần Ngọc T. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Hà Nam đã trả lại các phương tiện, tài liệu liên quan nêu trên cho Trần Ngọc T và đại diện hợp pháp của ông Tống Đức T1, là phù hợp với quy định của pháp luật.
Đối với 01 giấy phép lái xe hạng B2 có giá trị đến ngày 24/11/2031 mang tên Trần Ngọc T được chuyển theo hồ sơ vụ án; Hội đồng xét xử trả lại bị cáo nhưng được tạm giữ trong thời gian bị cáo T bị cấm hành nghề lái xe ôtô.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng điểm a khoản 1 và khoản 5 Điều 260; các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65; Điều 41 Bộ luật Hình sự.
Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 106; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội khoá 14.
1. Tuyên bố bị cáo Trần Ngọc T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
2. Xử phạt bị cáo Trần Ngọc T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo; thời gian thử thách là 03 (ba) năm kể từ ngày tuyên án (22/8/2025).
Giao bị cáo Trần Ngọc T cho Ủy ban nhân dân xã B, tỉnh Ninh Bình giám sát, giáo dục.
Gia đình bị cáo Trần Ngọc T phối hợp với Ủy ban nhân dân xã B, tỉnh Ninh Bình trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trong thời gian thử thách của án treo; bị cáo T phải thực hiện nghĩa vụ theo quy định tại Điều 87 Luật Thi hành án hình sự. Nếu bị cáo T vắng mặt tại nơi cư trú hoặc thay đổi nơi cư trú thì phải thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo T cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Toà án có thể quyết định buộc các bị cáo T phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
3. Áp dụng hình phạt bổ sung, cấm bị cáo Trần Ngọc T làm công việc lái xe ôtô trong thời hạn 01 năm kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
4. Trả lại bị cáo Trần Ngọc T giấy phép lái xe ô tô hạng B2 mang tên Trần Ngọc T, có số 3602110125xx do Sở Giao thông vận tải tỉnh Nam Định cấp ngày 24/11/2021 nhưng được tạm giữ trong thời gian bị cáo T bị cấm làm công việc lái xe ôtô. (Giấy phép lái xe được để trong hồ sơ vụ án).
5. Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Trần Ngọc T phải nộp 200.000 đồng.
Án xử công khai; báo cho bị cáo T biết được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Báo cho người đại diện hợp pháp của bị hại – ông T2 biết được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết tại trụ sở Ủy ban nhân dân xã B, tỉnh Ninh Bình.
| Nơi nhận: - TAND tối cao (Vụ Giám đốc kiểm tra I); - TAND tỉnh Ninh Bình; - VKSND tỉnh Ninh Bình; - VKSND Khu vực 6, tỉnh Ninh Bình; - Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Ninh Bình; - Cơ quan THAHS Công an tỉnh Ninh Bình - Thi hành án dân sự tỉnh Ninh Bình; - UBND xã B, tỉnh Ninh Bình; - Bị cáo; - Đại diện hợp pháp của bị hại; - Lưu hồ sơ và văn phòng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà Đặng Trần Anh Dũng (đã ký) |