vanban.org

Bản án 25/2025/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 6 - Gia Lai, tỉnh Gia Lai Tuyên án 19/09/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phan Ngọc A phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Phan Ngọc A 18 (mười tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 36 (ba mươi sáu) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Phan Ngọc A cho Ủy ban nhân dân phường Qu, tỉnh Gi giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người đư… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung…"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phan Ngọc A phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 6 – GI
TỈNH GI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 25/2025/HS-ST
Ngày 19 - 9 - 2025

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 – GIA LAI, TỈNH GI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Phương Quang.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Phan Á.

Ông Phan Văn Siêng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Xuân Diệu - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 6 – Gi.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Gia Lai, tỉnh Gi tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Tín - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 9 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 6 – Gi, tỉnh Gi xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 14/2025/TLST-HS ngày 03 tháng 9 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 24/2025/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 9 năm 2025, đối với bị cáo:

Phan Ngọc A, sinh ngày 28 tháng 8 năm 1980 tại tỉnh Gi; nơi cư trú: Khu vực 4, phường Qu, tỉnh Gii; căn cước công dân số 052080010576, cấp ngày 28/6/2021, nơi cấp: Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan Văn Dũng (chết) và bà Nguyễn Thị Biểu, sinh năm 1960; vợ: Nguyễn Thị Huyền Ly, sinh năm 1986; con: Có 02 người sinh năm 2006 và 2011; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 26/3/2025 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Ông Phạm Thanh T, sinh ngày 28/7/2001, chết ngày 24/01/2025, nơi cư trú trước khi chết: Tổ dân phố Th, phường S, tỉnh Qu.

Người đại diện hợp pháp của ông Phạm Thanh T:

- Ông Phạm Thanh S, sinh ngày 01/12/1967 (Có mặt).

- Bà Nguyễn Thị V, sinh ngày 30/9/1971(Có mặt).

Địa chỉ: Tổ dân phố Th, phường S, tỉnh Qu – Là cha, mẹ của bị hại.

- Bị đơn dân sự: Công ty TNHH Qu NT.

Địa chỉ: Số 48 đường số 10 H, phường N, tỉnh Kh.

Người đại diện theo pháp luật: Bà Lê Thị H, sinh ngày 11/02/1997 (Vắng mặt).

Địa chỉ: 72 Hoàng Hoa Thám, phường Nh, tỉnh Kh.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Công ty TNHH đầu tư AP V.

Địa chỉ: 47C Ngõ 112, Phố Ng, phường Gi, thành Phố H.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Hà Anh T – Chức vụ: Tổng giám đốc (Vắng mặt).

+ Anh Trần Gia Đ, sinh ngày 02/4/2002; địa chỉ: Tổ dân phố Th, phường S, tỉnh Qu (Vắng mặt).

- Người làm chứng: Ông Vũ Lâm Thành Đ, sinh ngày 30/3/1984; địa chỉ: 106 Sinh Trung, phường Nh, tỉnh Kh (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Phan Ngọc A có giấy phép lái xe ô tô hạng E, lái xe thuê cho Công ty TNHH Quang Thành Phát NT do bà Lê Thị Hương làm Giám đốc. Khoảng 16 giờ ngày 24/01/2025, Phan Ngọc A được giao điều khiển xe ô tô khách biển kiểm soát 29B-103.74 chở khách từ phường Quy Nhơn, tỉnh Gi đến tỉnh Nghệ An. Đến khoảng 19 giờ 15 phút cùng ngày, Anh điều khiển xe ô tô theo hướng Nam - Bắc trên làn đường xe cơ giới phía Đông, với tốc độ khoảng 48km/h đến đoạn đường Quốc lộ 1A thuộc thôn Gia An Đông, xã Hoài Châu Bắc, thị xã Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định (nay là khu phố Gia An Đông, phường Hoài Nhơn Bắc, tỉnh Gia Lai). Lúc này, có nhiều xe ô tô chạy cùng chiều phía trước, Anh điều khiển xe ô tô chuyển hướng từ làn đường xe cơ giới phía Đông sang làn đường xe cơ giới phía Tây để vượt lên. Khi xe ô tô chạy trên làn đường xe cơ giới phía Tây khoảng 01km thì Anh phát hiện phía trước ngược chiều có anh Phạm Thanh Tân điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 60B6 - 370.96 đi tới, Anh đánh lái xe ô tô về hướng Đông để tránh nhưng không kịp, phần đầu xe ô tô khách 29B - 103.74 đã va chạm vào xe mô tô biển số 60B6 - 370.96 làm anh Tân tử vong tại chỗ, 02 xe bị hư hỏng. Tại thời điểm xảy ra tai nạn, anh Phạm Thanh Tân có nồng độ cồn là 9,2mg/100ml máu; Phan Ngọc A không có nồng độ cồn trong máu và âm tính với các chất ma túy.

Theo Kết luận giám định tử thi số: 29/KLGĐTT-PYBĐ ngày 07/02/2025 của Trung tâm Pháp y tỉnh Bình Định (trước đây): Anh Phạm Thanh Tân chết do suy hô hấp, suy tuần hoàn cấp do đa chấn thương, đứt lìa chân trái.

Theo các Kết luận định giá tài sản số: 28/HĐĐGTS ngày 05/5/2025, số 30/HĐĐGTS ngày 06/5/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thị xã Hoài Nhơn (trước đây) xác định: Giá trị thiệt hại của xe mô tô biển kiểm soát 60B6 - 370.96 là 5.506.000 đồng, xe ô tô khách biển kiểm soát 29B - 103.74 là 5.754.876 đồng.

Về việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tạm giữ, sau đó trả lại xe mô tô biển số 60B6 - 370.96 và xe ô tô biển số 29B - 103.74 cùng các giấy tờ liên quan cho các chủ sở hữu hợp pháp; hiện còn tạm giữ 01 giấy phép lái xe của Phan Ngọc A.

Về trách nhiệm dân sự: Phan Ngọc A và Công ty TNHH Quang Thành Phát NT đã bồi thường cho đại diện hợp pháp của bị hại Phạm Thanh Tân số tiền 150.000.000 đồng; Phan Ngọc A bồi thường cho anh Trần Gia Định là chủ sở hữu xe mô tô biển số 60B6 - 370.96 số tiền 22.000.000 đồng.

Bản cáo trạng số: 66/CT-VKSKV6 ngày 29 tháng 8 năm 2025, của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Gia Lai, tỉnh Gi đã truy tố bị cáo Phan Ngọc A về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.

- Tại phiên tòa, bị cáo Phan Ngọc A khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 – Gi đã truy tố và không có ý kiến tranh luận với Kiểm sát viên.

- Người đại diện hợp pháp cho bị hại trình bày: Gia đình bị hại đã nhận số tiền 150.000.000 đồng và không yêu cầu bị cáo bồi thường phần dân sự; về hình phạt đối với bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo vì sự việc xảy ra là ngoài ý muốn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Gia Lai, tỉnh Gi thực hành quyền công tố tại phiên tòa phát biểu quan điểm luận tội, giữ nguyên Cáo trạng truy tố đối với bị cáo Phan Ngọc A. Căn cứ vào hành vi phạm tội, tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi; căn cứ vào nhân thân người phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Phan Ngọc A phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” và đề nghị Hội đồng xét xử:

+ Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phan Ngọc A từ 18 tháng đến 24 tháng tù.

+ Về bồi thường thiệt hại: Đã giải quyết xong.

+ Về xử lý vật chứng: Trả cho bị cáo 01 giấy phép lái xe hạng E số 520096001667 cấp ngày 30/11/2021 mang tên Phan Ngọc A.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo thừa nhận hành vi của bản thân đã sai, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh Gia Lai, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 – Gi, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là hợp pháp.

Về tội danh và điều luật áp dụng: Tại phiên tòa, bị cáo Phan Ngọc A đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định: Khoảng 19 giờ 15 phút ngày 24/01/2025, tại thôn Gia An Đông, xã Hoài Châu Bắc, thị xã Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định (nay là khu phố Gia An Đông, phường Hoài Nhơn Bắc, tỉnh Gia Lai) Phan Ngọc A điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 29B - 103.74 đi không đúng làn đường, phần đường quy định gây tai nạn làm chết anh Phạm Thanh Tân. Hành vi của Phan Ngọc A đã phạm vào khoản 1 Điều 10 Luật Trật tự, an toàn giao thông đường bộ. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Gia Lai, tỉnh Gi đã truy tố bị cáo Phan Ngọc A về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ.

Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm trực tiếp đến tính mạng của anh Phạm Thanh Tân một cách trái pháp luật mà còn gây mất trật tự an toàn giao thông đường bộ ở địa phương. Do đó, cần thiết phải xử lý bị cáo bằng pháp luật hình sự mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung tội phạm.

Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:

- Về nhân thân: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự nên có nhân thân tốt.

- Các tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

- Các tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo đã bồi thường cho gia đình bị hại Phạm Thanh Tân và bồi thường cho anh Trần Gia Định là chủ sở hữu xe mô tô biển số 60B6 - 370.96 số tiền 22.000.000 đồng; tại phiên tòa đại diện hợp pháp cho bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Về quyết định hình phạt: Bị cáo có hai tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 và một tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng. Theo quy định tại Văn bản hợp nhất số: 03/2025/VBHN-TANDTC ngày 10/7/2025 của Tòa án nhân dân tối cao về xác thực Văn bản hợp nhất Nghị quyết hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì bị cáo đủ điều kiện được hưởng án treo. Từ những phân tích trên xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội và việc cho bị cáo hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội nên giao bị cáo cho chính quyền địa phương giám sát, giáo dục cũng đủ tác dụng răn đe, phòng ngừa.

Về bồi thường thiệt hại: Các bên đã thỏa thuận bồi thường xong, tại phiên tòa đại diện hợp pháp cho bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về xử lý vật chứng: Trả cho bị cáo 01 giấy phép lái xe hạng E số 520096001667 cấp ngày 30/11/2021 mang tên Phan Ngọc A.

Về án phí: Áp dụng các Điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo Phan Ngọc A phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 – Gi đề nghị áp dụng pháp luật và các vấn đề khác đối với bị cáo là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận. Riêng về mức hình phạt đề nghị xử phạt bị cáo mức án từ 18 tháng đến 24 tháng tù là có phần nghiêm khắc nên Hội đồng xét chấp nhận một phần.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự;

Căn cứ vào các Điều 106, 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phan Ngọc A phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Phan Ngọc A 18 (mười tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 36 (ba mươi sáu) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Phan Ngọc A cho Ủy ban nhân dân phường Qu, tỉnh Gi giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

3. Về bồi thường thiệt hại: Các bên đã thỏa thuận bồi thường xong, đại diện hợp pháp cho bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm nên miễn xét.

4. Về xử lý vật chứng: Trả cho bị cáo Phan Ngọc A 01 giấy phép lái xe hạng E số 520096001667 cấp ngày 30/11/2021 mang tên Phan Ngọc A.

5. Về án phí: Bị cáo Phan Ngọc A phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện hợp pháp cho bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

7. Về quyền, nghĩa vụ thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND tỉnh Gi;

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

- VKSND tỉnh Gi;

- VKSND khu vực 6 - Gi;

- Thi hành án dân sự tỉnh Gi;

- CQ CSĐT Công an tỉnh Gi;

- CQ THAHS Công an tỉnh Gi;

- Bị cáo; đại diện hợp pháp cho bị hại; ngườ i có quyền lợ, nghĩa vụi liên quan;

Võ Phƣơng Quang

- Lưu: Hồ sơ vụ án.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN –

CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Võ Phƣơng Quang TÒA ÁN NHÂN DÂN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM KHU VỰC 6 – GIA LAI

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc TỈNH GI

BIÊN BẢN NGHỊ ÁN

Vào hồi giờ ngày tháng 9 năm 2025.

Tại: Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 6 – Gi, tỉnh Gia Lai.

Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Phương Quang

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Phan Á.

Ông Phan Văn Siêng.

Tiến hành nghị án vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 14/2025/TLST-HS ngày 03 tháng 9 năm 2025 đối với:

Phan Ngọc A, sinh ngày 28 tháng 8 năm 1980; nơi cư trú: Khu vực 4, phường Qu, tỉnh Gii;

Căn cứ Điều 299 và Điều 326 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ các chứng cứ và tài liệu đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT, QUYẾT ĐỊNH

CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƢ SAU:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự;

Căn cứ vào các Điều 106, 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Kết quả biểu quyết: 3/3.

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phan Ngọc A phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Kết quả biểu quyết: 3/3.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Phan Ngọc A 12 (mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 (hai mươi bốn) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Phan Ngọc Anh cho Ủy ban nhân dân phường Quy Nhơn Nam, tỉnh Gi giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Kết quả biểu quyết: 3/3.

Về bồi thường thiệt hại: Các bên đã thỏa thuận bồi thường xong, không yêu cầu bồi thường gì thêm nên miễn xét.

Về xử lý vật chứng: Trả cho bị cáo 01 giấy phép lái xe hạng E số 520096001667 cấp ngày 30/11/2021 mang tên Phan Ngọc Anh.

Về án phí: Bị cáo Phan Ngọc Anh phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện hợp pháp cho bị hại, nguyên đơn dân sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Kết quả biểu quyết: 3/3.

Nghị án kết thúc vào hồi

giờ phút, ngày tháng 9 năm 2025.

Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả các thành viên Hội đồng xét xử cùng nghe và ký tên.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN –

CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Á

Phan Văn Siêng

Võ Phƣơng Quang

Cỡ chữ