vanban.org

Bản án 25/2025/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình Tuyên án 28/04/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh và hình phạt:

Tuyên bố bị cáo Ngô Minh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý". Xử phạt bị cáo Ngô Minh T 42 (bốn mươi hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 24/12/2024. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Ngô Minh T phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt:
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN QUẢNG NINH
TỈNH QUẢNG BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 25/2025/HS-ST
Ngày 28 - 4 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG NINH, TỈNH QUẢNG BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Châu Mạnh Cường

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Xuân Hiền và ông Phạm Xuân Ninh.

- Thư ký phiên toà: Bà Võ Thị Trang Nhung - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Duy Triều, Kiểm sát viên.

Hôm nay, ngày 28 tháng 4 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 21/2025/TLST- HS ngày 01/4/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 18/2025/QĐXXST-HS ngày 08/4/2025 đối với bị cáo: Ngô Minh T, sinh ngày 19 tháng 7 năm 1989; Nơi thường trú và chỗ ở hiện nay: Thôn Q, xã H, huyện Q, tỉnh Quảng Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ngô Minh T1 và bà Lê Thị H; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự : Không.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/12/2024 tại Nhà tạm giữ Công an huyện Q, sau đó chuyển đến Trại tạm giam Công an tỉnh Q cho đến nay, theo lệnh trích xuất bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 20 giờ 00 phút ngày 23/12/2024, Công an xã H tiến hành tuần tra, kiểm soát đảm bảo an ninh trật tự trên địa bàn xã. Khi đến đoạn đường thôn Q, xã H, huyện Q, tỉnh Quảng Bình thì phát hiện một nam thanh niên đang đi bộ một mình có biểu hiện nghi vấn nên đã tiến hành kiểm tra và xác định nam thanh niên tên là Ngô Minh T trú tại thôn Q, xã H, huyện Q, đồng thời phát hiện trong túi áo khoác bên trái của T đang mặc trên người có 01 (một) túi nilon trong suốt, bên trong túi chứa 46 (bốn mươi sáu) viên nén hình tròn dạng thuốc tân dược màu hồng và 01 (một) viên nén hình tròn dạng thuốc tân dược màu xanh. Ngô Minh T khai nhận các viên nén màu hồng trên là ma túy tổng hợp dạng hồng phiến còn viên nén màu xanh không phải là ma túy mà chỉ là viên hút ẩm của gói ma túy mà T đã mua vào ngày 11/12/2024 tại thôn Q, xã H, huyện Q, tỉnh Quảng Bình từ một người đàn ông lạ mặt, với số lượng 48 (bốn mươi tám) viên ma túy loại hồng phiến với giá 2.500.000 đồng (Hai triệu năm trăm nghìn đồng) với mục đích sử dụng phục vụ nhu cầu của bản thân. Sau khi mua số ma túy nói trên, T đã sử dụng hết 02 (hai viên), số ma túy còn lại Tuyến cất giấu trong người để sử dụng dần.

Xét thấy hành vi của Ngô Minh T có dấu hiệu của tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại Điều 249 Bộ luật Hình sự nên Công an xã H đã đưa Ngô Minh T về Trụ sở UBND xã H để lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ và niêm phong những đồ vật liên quan.

Sau đó, Công an xã H đã chuyển giao Ngô Minh T cùng tang vật đã thu giữ đến Cơ quan CSĐT Công an huyện Q, tỉnh Quảng Bình. để tiếp tục điều tra theo thẩm quyền. (BL: 11-12, 35, 59-73)

Ngày 29 tháng 12 năm 2024, Phòng K Công an tỉnh Q có kết luận giám định số 51/KL-KTHS, kết luận:

“- Mẫu ký hiệu A1 (tức 46 (bốn mươi sáu) viên nén hình tròn, màu hồng, trên một mặt mỗi viên có in chữ “WY” thu giữ khi bắt quả tang) là chất ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng: 4,102g (bốn phẩy một trăm linh hai gam)

Methamphetamine nằm trong danh mục các chất ma túy, Số thứ tự: 247, Danh mục IIC, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25 tháng 8 năm 2022 của Chính phủ.

- Mẫu ký hiệu A2 (tức 01 (một) viên nén hình tròn, màu xanh, trên một mặt có in chữ “WY” thu giữ khi bắt quả tang) không phải là chất ma túy, khối lượng: 0,088 g (không phẩy không trăm tám mươi tám gam).”(BL: 21-22)

- Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật:

Ngày 23/12/2024, Công an xã H đã tạm giữ các đồ vật, tài liệu gồm: 01 (một) túi nilon trong suốt, bên trong có chứa 46 (bốn mươi sáu) viên nén hình tròn dạng thuốc tân dược màu hồng và 01 (một) viên nén hình tròn dạng thuốc tân dược màu xanh, đã bàn giao các đồ vật trên cho Cơ quan CSĐT Công an huyện Q.

Quá trình giám định, Phòng K Công an tỉnh Q đã sử dụng hết 0,271gam, còn lại sau giám định là 3,831gam (ba phẩy tám trăm ba mươi mốt gam) ma túy loại Methamphetamine và vỏ bao gói giao cho Cơ quan CSĐT Công an huyện Q (đã được niêm phong).

Bản Cáo trạng số: 22/CT-VKS ngày 01/4/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Ninh truy tố bị cáo Võ Sỹ L vào “Tội tàng trữ trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Ngô Minh T từ 42 tháng đến 48 tháng tù và xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Hành vi của bị cáo vi phạm pháp luật hình sự, bị cáo rất ăn năn hối hận và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo Ngô Minh T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời nhận tội của bị cáo phù hợp với tang vật vụ án đã thu giữ cũng như các tài liệu, chứng cứ khác thu thập trong hồ sơ vụ án và được tranh tụng tại phiên tòa. Do đó có đủ cơ sở xác định: Vào khoảng 20 giờ 00 phút ngày 23 tháng 12 năm 2024, tại thôn Q, xã H, huyện Q, tỉnh Quảng Bình, Ngô Minh T đã có hành vi tàng trữ trái phép 46 viên ném hình tròn, màu hồng. Ngày 29 tháng 12 năm 2024, Phòng K Công an tỉnh Q có kết luận giám định số 51/KL-KTHS, kết luận: “- Mẫu ký hiệu A1 (tức 46 (bốn mươi sáu) viên nén hình tròn, màu hồng, trên một mặt mỗi viên có in chữ “WY” thu giữ khi bắt quả tang) là chất ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng: 4,102g (bốn phẩy một trăm linh hai gam). Methamphetamine nằm trong danh mục các chất ma túy, Số thứ tự: 247, Danh mục IIC, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25 tháng 8 năm 2022 của Chính phủ. Như vậy, Hội đồng xét xử đã có đủ căn cứ kết luận bị cáo Ngô Minh T phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1, Điều 249 của Bộ luật hình sự. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Ninh và lời luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa truy tố bị cáo theo tội danh, điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.

Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo đã thực sự gây nguy hại cho xã hội, không chỉ xâm phạm trực tiếp đến các quy định của Nhà nước trong việc quản lý, kiểm soát các chất kích thích gây nghiện mà còn gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội. Bị cáo là người thiếu ý thức rèn luyện, tu dưỡng đạo đức, không làm chủ được bản thân trước cám dỗ của tệ nạn ma túy. Hiện nay, tệ nạn ma túy đang là mối hiểm họa lớn của toàn xã hội, làm suy kiệt tài sản gia đình, là nguyên nhân phát sinh tội phạm và tệ nạn xã hội; việc mua bán, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, chiếm đoạt trái phép chất ma tuý bị nghiêm cấm tuyệt đối. Điều đó cho thấy bị cáo là đối tượng có ý thức coi thường pháp luật, do đó, bị cáo phải chịu hình phạt tương xứng với hành vi mà mình đã gây ra.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Không có

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại phiên tòa, bị cáo đã có thái độ thành khẩn khai báo, tỏ rõ sự ăn năn hối cải. Vì vậy, Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo đã có thành tích hỗ trợ chính quyền và các tổ chức đoàn thể cứu trợ, giúp đỡ nhân dân trên địa bàn khắc phục hậu quả đợt lũ lụt lịch sử năm 2020 và hổ trợ chống dịch Covid - 19 được Uỷ ban nhân xã H xác nhận, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Từ những đánh giá trên, nghĩ cần thiết phải cách ly bị cáo Ngô Minh T ra ngoài xã hội một thời gian, tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra mới đủ sức giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân tốt, sống có ích cho gia đình, xã hội và răn đe phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý của bị cáo không nhằm mục đích sinh lợi nên Hội đồng xét xử quyết định miễn áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5, Điều 249 Bộ luật hình sự.

Về xử lý vật chứng: 3,831g (ba phẩy tám trăm ba mươi mốt gam) ma túy loại Methamphetamine và bao gói được niêm phong trong 01 (Một) phong bì giấy dán kín, trên có ghi “51/KL-KTHS”, có chữ ký và họ tên đầy đủ của Hoàng Khắc T2, Lưu Đức B, Cao Xuân V, Lê Trương Thành V1 và hình dấu của Phòng Kỷ thuật hình sự Công an tỉnh Q, ngoài phong bì dán băng dính trong suốt là vật cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.

Trong vụ án này, Ngô Minh T khai mua ma túy từ một người thanh niên lạ mặt đeo khẩu trang, không rõ tên, tuổi, địa chỉ và đặc điểm nhận dạng cụ thể. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q đã tiến hành xác minh nhưng không xác định được đối tượng đã bán ma túy cho T nên không có cơ sở để xử lý

Về án phí: Bị cáo Ngô Minh T gia đình thuộc diện hộ nghèo. Vì vậy Hội đồng xét xử áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, miễn án phí cho bị cáo Ngô Minh T là phù hợp.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào quy định tại Điều 268; khoản 1 Điều 269; khoản 1 Điều 298; khoản 1 Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Điều 38 Bộ luật Hình sự.

1. Về tội danh và hình phạt:

- Tuyên bố bị cáo Ngô Minh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý".

- Xử phạt bị cáo Ngô Minh T 42 (bốn mươi hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 24/12/2024.

Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo Ngô Minh T .

2. Xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ Luật hình sự; điểm a, c khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy: 3,831g (ba phẩy tám trăm ba mươi mốt gam) ma túy loại Methamphetamine và bao gói được niêm phong trong 01 (Một) phong bì giấy dán kín, trên có ghi “51/KL-KTHS”, có chữ ký và họ tên đầy đủ của Hoàng Khắc T2, Lưu Đức B, Cao Xuân V, Lê Trương Thành V1 và hình dấu của Phòng K Công an tỉnh Q, ngoài phong bì dán băng dính trong suốt.

Vật chứng nêu trên có tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quảng Ninh theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 14/4/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình.

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức án phí, lệ phí Tòa án xử miễn án phí hình sự cho bị cáo Ngô Minh T.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án có quyền kháng cáo bản án để xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

Cỡ chữ