- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lê Thị Kim Ch - Trần H"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị Kim C.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - KHÁNH HÒA TỈNH KHÁNH HÒA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 25/2025/HNGĐ-ST Ngày: 29 - 9 - 2025 V/v: ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - KHÁNH HÒA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Thị Thành.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Đỗ Thị Minh Linh;
2. Ông Nguyễn Thanh Hạnh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quỳnh Như - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 6 - Khánh Hòa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cảnh - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 6 - Khánh Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 70/2025/TLST-HNGD ngày 24 tháng 7 năm 2025 về việc“Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 18/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 8 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 20/2025/QĐST-HNGĐ ngày 12 tháng 9 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Lê Thị Kim C, sinh năm 1990 (có mặt).
- Bị đơn: Ông Trần H, sinh năm 1986 (vắng mặt không lý do).
Cùng hộ khẩu thường trú: thôn H, xã X, tỉnh Khánh Hòa. Nơi cư trú: thôn T, xã X, tỉnh Khánh Hòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn bà Lê Thị Kim C trình bày:
Bà và ông Trần H đến với nhau hoàn toàn tự nguyện và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện N, tỉnh Ninh Thuận (Nay là UBND xã X, tỉnh Khánh Hoà) vào năm 2009. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến năm 2023, vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không có tiếng nói chung, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc. Từ năm 2023 đến nay vợ chồng bà đã sống ly thân, vợ chồng không còn quan tâm đến nhau, mạnh ai người đó sống. Nay tình cảm vợ chồng không còn nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn với ông H. Bà cũng đã đặt vấn đề ly hôn với ông H, ông H đồng ý nhưng không đồng ý đến Tòa án giải quyết.
Về con chung: Vợ chồng bà có 03 con chung là cháu Trần Thị Bích N, sinh ngày 18/10/2009, cháu Trần Ngọc D, sinh ngày 27/07/2015 và cháu Trần Quang V, sinh ngày 15/03/2022. Hiện nay, cháu N đang sống cùng với chị gái của bà tại Thành phố Hồ Chí Minh, còn cháu D và cháu V đang sống cùng bà. Ly hôn bà có nguyện vọng là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục 03 con chung. Hiện nay bà đang làm công nhân tại địa phương, mức thu nhập khoảng 5.000.000đ đến 7.000.000đ nên đủ điều kiện nuôi con. Bà không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn ông Trần H: Quá trình giải quyết vụ án Toà án đã tống đạt hợp lệ về thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập, thông báo mở phiên họp công khai chứng cứ và hoà giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử và quyết định hoãn phiên toà cho ông H nhưng ông H không đến Tòa án để làm việc, không có văn bản thể hiện ý kiến về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 phát biểu:
Về tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng; Bị đơn không thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng, mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vẫn vắng mặt không có lý do.
Về nội dung: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, xét thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc ly hôn và nuôi con chung. Cho bà C ly hôn với ông H; giao 03 con chung là các cháu N, D và V cho bà C trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, ông H không phải cấp dưỡng nuôi con do bà C không yêu cầu.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, trình bày của đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng:
Xác định quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:
- Nguyên đơn bà Lê Thị Kim C khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết vấn đề ly hôn, nuôi con chung với bị đơn ông Trần H. Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Bị đơn có nơi cư trú tại xã X, tỉnh Khánh Hòa nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 6 - Khánh Hòa theo quy định tại khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Đối với việc vắng mặt của bị đơn: Bị đơn ông Trần H đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vắng mặt tại phiên toà lần thứ 2 không có lý do. Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt bị đơn.
Về nội dung vụ án:
Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị Kim C và ông Trần H đến với nhau hoàn toàn tự nguyện và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện N, tỉnh Ninh Thuận (nay là UBND xã X, tỉnh Khánh Hoà) vào năm 2009 nên đây là hôn nhân hợp pháp.
Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà sơ thẩm, bà C trình bày: Sau một thời gian chung sống hạnh phúc thì đến năm 2023, vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không có tiếng nói chung, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc và từ năm 2023 đến nay vợ chồng bà đã sống ly thân, không ai còn quan tâm đến ai. Lời trình bày của bà C về tình trạng mâu thuẫn của vợ chồng bà phù hợp với nội dung xác nhận của chính quyền địa phương nơi bà C và ông H đang cư trú.
Bên cạnh đó, quá trình giải quyết vụ án, mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng ông H không đến Toà án để làm việc, hoà giải, không có ý kiến gì đối với yêu cầu ly hôn của bà C, điều này chứng tỏ ông H có thái độ bỏ mặc, không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng.
Khoản 1 Điều 19 Luật hôn nhân và gia đình quy định: “Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình”. Tuy nhiên, từ những căn cứ trên, Hội đồng xét xử thấy rằng: Tình trạng mâu thuẫn giữa vợ chồng bà C ông H đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên căn cứ theo quy định tại Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà C.
Về con chung: Vợ chồng bà C có 03 con chung là cháu Trần Thị Bích N, sinh ngày 18/10/2009, cháu Trần Ngọc D, sinh ngày 27/07/2015 và cháu Trần Quang V, sinh ngày 15/03/2022. Sau khi ly hôn bà C có nguyện vọng là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cả 03 người chung.
Xét thấy cháu N và cháu D đều có nguyện vọng sống cùng bà C, cháu V mới hơn 03 tuổi và đang sống cùng bà C, bà C là người có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên đảm bảo các điều kiện để nuôi con. Bên cạnh đó, ông H cũng không có ý kiến về việc nuôi dưỡng con chung nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu về việc nuôi con chung của bà C, giao cháu 03 cháu là N, D và V cho bà C trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Ông H không phải cấp dưỡng nuôi con do bà C không yêu cầu.
Tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Bà C phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Khánh Hoà tại phiên tòa là có căn cứ, phù hợp pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 3 Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình;
Căn cứ vào khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị Kim C.
1. Về hôn nhân: Bà Lê Thị Kim C được ly hôn với ông Trần H.
2. Về con chung: Giao cho bà Lê Thị Kim C được quyền trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục 03 con chung là cháu Trần Thị Bích N, sinh ngày 18/10/2009, cháu Trần Ngọc D, sinh ngày 27/07/2015 và cháu Trần Quang V, sinh ngày 15/03/2022. Ông Trần H không phải cấp dưỡng nuôi con do bà C không yêu cầu.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
3. Về án phí: Bà Lê Thị Kim C phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000đ tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000379 ngày 23/7/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Khánh Hòa. Bà C đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm, nguyên đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày kể từ ngày tuyên án; bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ Bản án./.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND khu vực 6; - CCTHADS khu vực 6; - TAND tỉnh Khánh Hòa; - UBND xã X, ( GCNKH số: 65, ngày 06/7/2009 ); - Lưu hồ sơ; án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ (Đã ký) Đinh Thị Thành |