vanban.org

Bản án 25/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị T.

Về hôn nhân: Xử cho bà Nguyễn Thị T ly hôn với ông Phạm Bảo L. Về con chung: Giao cháu Phạm Nguyễn Gia P – sinh ngày 13/8/2012 cho bà Nguyễn Thị T tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn và tranh chấp về nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị T.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN GÒ QUAO
TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 25/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 14/3/2025.
V/v: Ly hôn và tranh chấp về nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ QUAO, TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Thùy Trang.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Lương Thị Hồng Hạnh.

2. Ông Lê Hữu Quang.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nghĩa – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Quao tham gia phiên toà: Bà Thị Xà Ly – Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 284/2024/TLST-HNGĐ, ngày 07 tháng 11 năm 2024, về việc: “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 16/2025/QĐXXST-HNGĐ, ngày 05 tháng 02 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 20/2025/QĐST-HNGĐ, ngày 26 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị T - sinh năm 1990, có đơn xin vắng mặt.

Địa chỉ: Tổ A, ấp V, xã V, huyện C, tỉnh Kiên Giang.

2. Bị đơn: Ông Phạm Bảo L - sinh năm 1979, vắng mặt.

Địa chỉ: ấp P, xã V, huyện G, tỉnh Kiên Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 28/8/2024, bản tự khai và lời trình bày của nguyên đơn bà Nguyễn Thị T như sau:

Vào năm 2012, bà và ông Phạm Bảo L sống chung với nhau, không tổ chức đám cưới, hôn nhân tự nguyện, vợ chồng bà đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện C, tỉnh Kiên Giang ngày 27/11/2012.

Vợ chồng sống chung hạnh phúc được khoảng 05 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng không có tiếng nói chung, bất đồng quan điểm, thường xuyên cự cãi xuất phát từ việc ông Phạm Bảo L không quan tâm vợ con, không lo làm ăn, thường xuyên chơi ma túy. Năm 2016 bà ẵm con bỏ nhà đi và vợ chồng đã ly thân từ đó cho đến nay. Hiện vợ chồng không còn khả năng chung sống với nhau được nữa và bà không còn tình cảm với ông Phạm Bảo L nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Phạm Bảo L.

Thời gian chung sống vợ chồng bà có 01 người con chung tên Phạm Nguyễn Gia P – sinh ngày 13/8/2012, hiện nay bà đang nuôi dưỡng.

Về tài sản chung: Vợ chồng bà không có tài sản chung.

Về nợ chung: Bà cam đoan vợ chồng bà không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Nếu sau khi vợ chồng bà ly hôn mà có người kiện vợ chồng bà đòi nợ chung thì bà hoàn toàn chịu trách nhiệm trả nợ chung theo quy định của pháp luật.

Nguyện vọng:

Về hôn nhân: Bà xin được ly hôn với ông Phạm Bảo L.

Về con chung: Bà xin nuôi con chung tên Phạm Nguyễn Gia P – sinh ngày 13/8/2012 và không yêu cầu ông Phạm Bảo L cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn ông Phạm Bảo L đã được Tòa án niêm yết đầy đủ các văn bản tố tụng nhưng ông Phạm Bảo L không đến Tòa án nên Tòa án không thể ghi nhận ý kiến hay bất cứ yêu cầu nào của ông Phạm Bảo L.

- Phát biểu của kiểm sát viên - đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang tại phiên tòa:

Về việc tuân thủ theo pháp luật về tố tụng: Quá trình tiến hành tố tụng, Tòa án đã tuân thủ các thủ tục về thụ lý vụ án, xác định đúng quan hệ tranh chấp, tư cách đương sự, thẩm quyền giải quyết vụ kiện; Việc thu thập tài liệu, chứng cứ, cấp tống đạt cho người tham gia tố tụng và Viện kiểm sát đúng quy định; Thủ tục công khai chứng cứ và hòa giải đúng theo qui định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa sơ thẩm, Hội đồng xét xử, Thư ký và đương sự chấp hành đúng và đầy đủ các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Bị đơn vắng mặt không có lý do là không tuân thủ pháp luật nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự xử vắng mặt bị đơn. Nguyên đơn có đơn xin vắng mặt nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 228 Bộ luật tố tụg dân sự xử vắng mặt nguyên đơn theo quy định.

Về quan điểm giải quyết vụ án: Qua nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, lời khai của đương sự, đối chiếu với các quy định của pháp luật, Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về hôn nhân, đề nghị Hội đồng xét xử xử cho bà Nguyễn Thị T được ly hôn với ông Phạm Bảo L. Về con chung, đề nghị Hội đồng xét xử giao cháu Phạm Nguyễn Gia P – sinh ngày 13/8/2012 cho bà Nguyễn Thị T nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con, về tài sản chung và nợ chung đương sự không yêu cầu nên Viện kiểm sát không có đề nghị.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ và toàn diện các chứng cứ, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Tranh chấp giữa bà Nguyễn Thị T và ông Phạm Bảo L là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang theo quy định tại Điều 28, 35 và Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Ông Phạm Bảo L là bị đơn trong vụ án, ông Phạm Bảo L có địa chỉ rõ ràng, đó cũng là nơi ông đăng ký hộ khẩu thường trú, hiện nay ông Phạm Bảo L vẫn còn hộ khẩu thường trú ở địa chỉ trên. Tòa án đã niêm yết các thủ tục tố tụng theo quy định tại Điều 179 Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng ông Phạm Bảo L vắng mặt tại phiên tòa 02 lần không có lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt ông Phạm Bảo L.

Bà Nguyễn Thị T có đơn xin vắng mặt, xét thấy việc vắng mặt của bà Nguyễn Thị T không làm ảnh hưởng đến nội dung vụ án nên Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bà Nguyễn Thị T.

Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị T và ông Phạm Bảo L sống chung vào năm 2012, hôn nhân tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện C, tỉnh Kiên Giang. Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 159/2012, ngày 27/11/2012, như vậy Hội đồng xét xử xác định hôn nhân của bà Nguyễn Thị T và ông Phạm Bảo L là hôn nhân hợp pháp được pháp luật thừa nhận và bảo vệ.

Xét về quan hệ hôn nhân cho thấy: Tuy hôn nhân của bà Nguyễn Thị T và ông Phạm Bảo L là hôn nhân tự nguyện nhưng chưa tìm hiểu kỹ cá tình của nhau nên trong quá trình sống chung đã phát sinh mâu thuẫn không tự giải quyết được. Bà Nguyễn Thị T cho rằng vợ chồng bà bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung và thường xuyên cự cãi xuất phát từ việc ông Phạm Bảo L không quan tâm vợ con, không lo làm ăn và thường xuyên chơi ma túy. Vợ chồng đã ly thân từ năm 2016 cho đến nay. Trong thời gian ly thân bà và ông Phạm Bảo L vẫn còn liên lạc với nhau. Ngày 07/01/2025 và ngày 05/02/2025, Tòa án đã tổ chức hòa giải để động viên, giải thích giúp vợ chồng ông bà đoàn tụ nhưng ông Phạm Bảo L vắng mặt và bà Nguyễn Thị T cương quyết ly hôn với ông Phạm Bảo L. Xét thấy, vợ chồng bà Nguyễn Thị T và ông Phạm Bảo L đã sống ly thân với nhau hơn 08 năm, trong thời gian này, ông Phạm Bảo L và bà Nguyễn Thị T không tìm được tiếng nói chung để hàn gắn hôn nhân, khi Tòa án mời ông Phạm Bảo L đến Tòa án để hòa giải để động viên, giải thích giúp vợ chồng ông bà đoàn tụ thì ông Phạm Bảo L không có mặt cho thấy ông không còn quan tâm gì đến cuộc hôn nhân này và cho thấy mục đích hôn nhân của ông bà không đạt được. Bà Nguyễn Thị T cương quyết xin ly hôn với ông Phạm Bảo L và tỏ rõ thái độ không còn tình cảm yêu thương ông Phạm Bảo L, vì vậy, căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Nguyễn Thị T.

Về con chung: Bà Nguyễn Thị T và ông Phạm Bảo L có 01 người con chung tên Phạm Nguyễn Gia P – sinh ngày 13/8/2012, hiện nay bà Nguyễn Thị T đang nuôi dưỡng.

Ông Phạm Bảo L không nuôi con và không có ý kiến về quyền nuôi. Bà Nguyễn Thị Thương yêu C tiếp tục nuôi dưỡng con chung tên Phạm Nguyễn Gia P – sinh ngày 13/8/2012 và cháu Gia P có nguyện vọng sống cùng mẹ nên căn cứ Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị T.

Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Nguyễn Thị T không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà Nguyễn Thị T không yêu cầu nên Hội đồng xét xử miễn xét.

Tại phiên tòa sau khi xem xét các tài liệu chứng cứ, đại diện Viện kiểm sát có quan điểm chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, xét đề nghị của kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí HNGĐST: Áp dụng Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự và Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí. Bà Nguyễn Thị T phải nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí trước đây theo biên lai thu số 0006197, ngày 06/11/2024, của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng Điều 51, khoản 1 Điều 56 và Điều 58 Luật Hôn nhân và Gia đình;

Áp dụng Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;

Áp dụng Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí.

1. Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị T.

Về hôn nhân: Xử cho bà Nguyễn Thị T ly hôn với ông Phạm Bảo L.

Về con chung: Giao cháu Phạm Nguyễn Gia P – sinh ngày 13/8/2012 cho bà Nguyễn Thị T tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục.

Ông Phạm Bảo L không phải cấp dưỡng nuôi con nhưng ông được quyền đến thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung. Không ai được phép cản trở ông thực hiện quyền này.

Các đương sự có quyền yêu cầu thay đổi người nuôi con và cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

Về cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung và nợ chung: Hội đồng xét xử không xem xét.

2. Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị T phải nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí trước đây theo biên lai thu số 0006197, ngày 06/11/2024, của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang.

3. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

4. Quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 9 Luật Thi hành án dân sự và Điều 7, Điều 7a, Điều 7b Luật Thi hành án dân sự sửa đổi bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

TM/. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ