- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "tranh chấp ly hôn, nuôi con khi ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử cho ly hôn giữa chị Lê Thúy P và anh Nguyễn Huy H.
- Căn cứ chính? Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 25/2025/HNGĐ - ST Ngày 05-9-2025 V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Hồng
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Phạm Thị Kim Thu
Ông Trần Ngọc Hải.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cẩm Vân - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 3 - Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 9 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 3 - Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 27/2025/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 5 năm 2025 về Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 11/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 23 tháng 7 năm 2025 và Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 17/2025/QĐST-HNGĐ ngày 28 tháng 8 năm 2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Lê Thúy P; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số I Lô A Tập thể L, phường T, quận L, thành phố Hải Phòng (nay là Số I Lô A Tập thể L, phường L, thành phố Hải Phòng); nơi ở hiện nay: Số B L, phường G, quận N, thành phố Hải Phòng (nay là Số B L, phường G, thành phố Hải Phòng); có mặt.
Bị đơn: Anh Nguyễn Huy H; địa chỉ: Số B B, phường T, quận H, thành phố Hải Phòng (nay là Số B B, phường H, thành phố Hải Phòng); có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 22 tháng 4 năm 2025, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn chị Lê Thúy P trình bày:
Chị và anh Nguyễn Huy H kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, quận H, thành phố Hải Phòng (nay là Ủy ban nhân dân phường H, thành phố Hải Phòng) vào ngày 19 tháng 3 năm 2020.
Quá trình chung sống vợ chồng hòa thuận đến tháng 7/2024 thì xảy mâu thuẫn nguyên nhân do hai bên bất đồng về quan điểm sống, lối sống. Giữa chị và anh H luôn cãi cọ, to tiếng, anh H nhiều lần quát và có lời lẽ xúc phạm chị trước mặt bố mẹ hai bên, thời điểm đó chị đã xác định ly hôn. Nhưng bố mẹ hai bên hàn gắn và hòa giải mâu thuẫn, chị nghĩ anh H còn tình cảm, nên chị tha thứ và hai vợ chồng chung sống bình thường. Khi chị phát hiện anh H ngoại tình nên chị đã gắn định vị vào ô tô của anh H và biết được anh H đã đi nhà nghỉ với người phụ nữ khác, chị cảm thấy sốc và buồn. Hai vợ chồng mặc dù sống chung một nhà nhưng đã ly thân nhau về mặt tình cảm, gia đình hai bên đã động viên, hòa giải do vậy chị đã cho hai vợ chồng cơ hội để hàn gắn. Tuy nhiên đến tháng 3/2025 chị thấy anh H vẫn liên lạc với người phụ nữ đó nên chị quyết tâm nộp đơn ly hôn với anh H. Từ tháng 6/2025 đến nay chị và anh H mỗi người sống một nơi không quan tâm gì đến nhau nữa. Chị cảm thấy quá mệt mỏi, tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn đã căng thẳng, trầm trọng nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh H.
Về con chung: Chị và anh H có 02 con chung là Nguyễn Thị Kim N, sinh ngày 08 tháng 01 năm 2021 và Nguyễn Gia K, sinh ngày 10 tháng 5 năm 2023. Ly hôn, chị có nguyện vọng được nuôi dưỡng 02 con chung, còn chị không tranh chấp về việc nuôi con chung, nhưng chị cũng tôn trọng phán quyết của Tòa án. Tại phiên tòa anh H đồng ý để chị nuôi cả hai con chung, việc cấp dưỡng nuôi con chung anh H và chị tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Chị đồng ý với quan điểm của anh H về việc chị được nuôi cả hai con chung, cấp dưỡng nuôi con chị và anh H tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại bản tự khai ngày 16 tháng 5 năm 2025 và tại phiên tòa, bị đơn anh Nguyễn Huy H trình bày:
Anh và chị Lê Thúy P kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, quận H, thành phố Hải Phòng (nay là Ủy ban nhân dân phường H, thành phố Hải Phòng) vào ngày 19 tháng 3 năm 2020. Sau khi kết hôn, hai vợ chồng về chung sống hòa thuận, hạnh phúc tại địa chỉ số B B, phường H, thành phố Hải Phòng. Đến đầu năm 2025, hai vợ chồng xảy ra mâu thuẫn nhỏ. Đến tháng 4/2025, thì xảy ra mâu thuẫn căng thẳng do do hai vợ chồng bất đồng quan điểm sống, cách sống, chị P nghi ngờ anh có quan hệ bất chính với người phụ nữ khác nhưng anh khẳng định không có sự việc ngoại tình xảy ra, do chị P quá ghen tuông nên nghĩ anh như vậy. Nguyện vọng của anh là mong muốn vợ chồng bỏ qua lỗi lầm cho nhau cùng chung tay nuôi dưỡng con. Tại phiên tòa anh H trình bày thêm anh cũng có nghe thấy chị P có quan hệ với người đàn ông khác nhưng anh tin tưởng chị P không ngoại tình. Đến nay, chị P có đơn xin ly hôn thì anh không đồng ý ly hôn vì anh vẫn còn tình cảm với chị P.
Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung Nguyễn Thị Kim N, sinh ngày 08 tháng 01 năm 2021 và Nguyễn Gia K, sinh ngày 10 tháng 5 năm 2023. Trong quá trình giải quyết vụ án anh mong muốn vợ chồng đoàn tụ, cùng nhau chăm sóc các con chung, do các cháu còn rất nhỏ, nên anh không có ý kiến gì về việc nuôi con chung và cấp dưỡng nuôi con chung. Tại phiên tòa anh đồng ý giao cả hai con chung cho chị P trực tiếp nuôi dưỡng, việc cấp dưỡng nuôi con anh và chị P tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tòa án đã tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ của chính quyền địa phương và đại diện gia đình chị P và anh H thấy: Chị Lê Thúy P và anh Nguyễn Huy H kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, quận H, thành phố Hải Phòng (nay là Ủy ban nhân dân phường H, thành phố Hải Phòng) vào ngày 19 tháng 3 năm 2020. Quá trình chung sống hai bên có mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn của vợ chồng là do bất đồng quan điểm sống, cách sống, chị P nghi ngờ anh H ngoại tình. Chị P có đơn xin ly hôn đề nghị Tòa án xem xét căn cứ vào mâu thuẫn của vợ chồng cũng như các quy định của pháp luật để giải quyết; đại diện gia đình anh H có ý kiến gia đình có biết việc chị P và anh H có mâu thuẫn, gia đình đã khuyên giải để vợ chồng hàn gắn mâu thuẫn. Phía gia đình không ủng hộ việc ly hôn của chị P vì hiện nay các con của anh chị còn nhỏ cần cả bố và mẹ chăm sóc. Về con chung chị P và anh H có 02 con chung Nguyễn Thị Kim N, sinh ngày 08 tháng 01 năm 2021 và Nguyễn Gia K, sinh ngày 10 tháng 5 năm 2023, đề nghị Tòa án căn cứ quy định của pháp luật để giải quyết đảm bảo quyền lợi cho các cháu. Về tài sản chung là vấn đề riêng tư cá nhân nên không có ý kiến.
Tại phiên tòa đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Hải Phòng phát biểu ý kiến: Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến thời điểm xét xử thấy rằng, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã chấp hành đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn cơ bản thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình.
Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ vào lời trình bày của các đương sự và các tài liệu Tòa án đã thu thập thể hiện mâu thuẫn của chị P và anh H không thể hòa giải, mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị HĐXX căn cứ vào Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình cần chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung Nguyễn Thị Kim N, sinh ngày 08 tháng 01 năm 2021 và Nguyễn Gia K, sinh ngày 10 tháng 5 năm 2023. Tại phiên tòa anh H đồng ý giao cả hai con cho chị P nuôi dưỡng, việc cấp dưỡng nuôi con do hai bên tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết, chị P đồng ý nuôi cả hai con, nhưng xét thấy anh H và chị P đều có công việc ổn định nên cần giao con chung Nguyễn Gia K cho chị Lê Thúy P trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; giao con chung Nguyễn Thị Kim N cho anh Nguyễn Huy H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Do hai bên không yêu cầu Tòa án giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con chung, nên đề nghị HĐXX không xem xét giải quyết.
Về tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết nên đề nghị HĐXX không xem xét giải quyết.
Về án phí: Chị P phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thẩm quyền giải quyết: Theo đơn khởi kiện xin ly hôn thể hiện anh Nguyễn Huy H; địa chỉ: Số B B, phường T, quận H, thành phố Hải Phòng (nay là Số B B, phường H, thành phố Hải Phòng). Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 ngày 25/6/2025 của Quốc hội vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng (nay là Tòa án nhân dân khu vực 3 - Hải Phòng.
-Về quan hệ hôn nhân:
Việc kết hôn giữa chị Lê Thúy P và anh Nguyễn Huy H tuân thủ đúng quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình nên là hôn nhân hợp pháp.
Xét lời trình bày của chị P và anh H cũng như các tài liệu chứng cứ mà Tòa án đã tiến hành xác minh thu thập Hội đồng xét xử xác định: Chị P và anh H đã sống ly thân, giữa hai bên không còn quan tâm, chia sẻ với nhau trong cuộc sống. Chị P khẳng định mâu thuẫn đã trầm trọng, anh H có quan hệ bất chính với người phụ nữ khác. Anh H cũng thừa nhận tình cảm vợ chồng có mâu thuẫn nhưng anh cho rằng chỉ là mâu thuẫn nhỏ, không có gì trầm trọng, anh mong muốn vợ chồng bỏ qua lỗi lầm cho nhau để cùng chung tay nuôi con nên anh không đồng ý ly hôn. Mặc dù anh H có nguyện vọng vợ chồng đoàn tụ để nuôi dạy con chung, nhưng các buổi hòa giải tại Tòa án, anh H đến làm việc xong đều bỏ về, không ký tên các văn bản này. Qua đó đã cho thấy mẫu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được bản thân chị P đã không còn muốn tha thứ cho anh H và không còn tình cảm với anh H. Do vậy HĐXX chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị P đối với anh H là phù hợp với Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Chị P và anh H có 02 con chung Nguyễn Thị Kim N, sinh ngày 08 tháng 01 năm 2021 và Nguyễn Gia K, sinh ngày 10 tháng 5 năm 2023. Tại phiên tòa chị P và anh H thỏa thuận giao cả 02 con chung cho chị P trực tiếp nuôi dưỡng, việc cấp dưỡng nuôi con do hai bên tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Hội đồng xét xử xét chị P và anh H thỏa thuận giao cả hai con chung cho chị P nuôi dưỡng là tự nguyện nên cần chấp nhận giao cả hai con cho chị P nuôi dưỡng, việc cấp dưỡng nuôi con chung do hai bên tự thỏa thuận nên HĐXX không xem xét. [5] Về tài sản chung: Hai bên không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét.
Về án phí: Chị Lê Thúy P phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 ngày 25/6/2025 của Quốc hội; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho ly hôn giữa chị Lê Thúy P và anh Nguyễn Huy H.
2. Về con chung: Giao cả hai con chung Nguyễn Thị Kim N, sinh ngày 08 tháng 01 năm 2021 và Nguyễn Gia K, sinh ngày 10 tháng 5 năm 2023 cho chị Lê Thúy P trực tiếp nuôi dưỡng đến khi các con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Việc cấp dưỡng nuôi con chung hai bên không yêu cầu, nên không xem xét.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
- Về án phí: Chị Lê Thúy P phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm. Số tiền này chị P đã nộp đủ tại biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí số 0002695 ngày 05 tháng 5 năm 2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng (nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 3 - Hải Phòng).
- Về quyền kháng cáo:
Chị Lê Thúy P và anh Nguyễn Huy H có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự
./.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND khu vực 3-Hải Phòng; - UBND phường T, quận H (nay là UBND phường H), TP Hải Phòng (GCNKH ngày 19/03/2020); - THADS TP Hải Phòng; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Tuyết Hồng TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Tuyết Hồng |