- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Huệ - Minh"
- Tòa quyết gì? [1]. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Phạm Thị H được ly hôn với anh Nguyễn Văn M.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2-VĨNH LONG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH VĨNH LONG Bản án số: 25/2025/HNGĐ-ST Ngày: 31-7-2025 |
“V/v ly hôn, nuôi con”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - VĨNH LONG, TỈNH VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Bảo
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trần Văn Bé Hai
2. Ông Phan Kiên Nhẫn
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trí Tín – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 2 - Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên toà: Không.
Trong ngày 31 tháng 7 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 2 - Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long đã xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 131/2025/TLST-HNGĐ, ngày 28/3/2025 về tranh chấp “Ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 60/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 23/5/2025 và Quyết định hoãn phiên toà số 78/2025/QĐST-HNGĐ, ngày 16/6/2025 và Thông báo dời lịch xét xử số 02/TB-HNGĐ, ngày 30/6/2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Phạm Thị H, sinh năm 1984 (xin vắng)
Địa chỉ: ấp B, xã B, huyện T, tỉnh Vĩnh Long (Nay là ấp B, xã B, tỉnh Vĩnh Long).
- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn M, sinh năm 1975 (vắng mặt)
Địa chỉ: ấp B, xã B, huyện T, tỉnh Vĩnh Long (Nay là ấp B, xã B, tỉnh Vĩnh Long).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Tại đơn khởi kiện đề ngày 07/3/2025 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Phạm Thị H trình bày: Vào năm 2002 qua quen biết nên chị và anh Nguyễn Văn M có tiến tới hôn nhân, có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn ngày 10/12/2002 tại UBND xã B, huyện T, tỉnh Vĩnh Long.
Thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc nhưng đến năm 2024 thì vợ chồng phát sinh mẫu thuẫn do vợ chồng bất đồng ý kiến với nhau về những việc trong cuộc sống gia đình. Mặc dù vợ chồng đã nhiều lần hàn gắn nhưng không được. Do vậy vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 3 năm 2024 cho đến nay. Từ lúc ly thân đến nay thì mạnh ai nấy sống, không còn quan tâm gì đến nhau không hàn gắn được chuyện gia đình. Chị thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Văn M.
Về con chung: Có con chung là Nguyễn Văn Q, sinh ngày 19/12/2003, hiện đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Bị đơn anh Nguyễn Văn M vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án nên không trình bày.
- Trong đơn xin xét xử vắng mặt ngày 23/5/2025, nguyên đơn chị Phạm Thị H trình bày: Chị yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Văn M. Về con chung: có 01 con chung là Nguyễn Văn Q, sinh ngày 19/12/2003, hiện đã trưởng thành, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ngoài các yêu cầu trên, các đương sự không có yêu cầu nào khác và cũng không có cung cấp tài liệu, chứng cứ mới tại phiên tòa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về pháp luật tố tụng:
Nguyên đơn chị Phạm Thị H khởi kiện yêu cầu ly hôn, nuôi con nên đây là quan hệ pháp luật tranh chấp về “Ly hôn”; bị đơn anh Nguyễn Văn M cư trú tại ấp B, xã B, huyện T, tỉnh Vĩnh Long (Nay là ấp B, xã B, tỉnh Vĩnh Long) nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long theo quy định tại khoản 1 Điều 28, 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Tòa án đã triệu tập hợp lệ bị đơn anh Nguyễn Văn M đến tham dự phiên tòa, nhưng vẫn vắng mặt mà không có bất cứ văn bản nào trình bày lý do vắng mặt; nguyên đơn chị Phạm Thị H có đơn xin xét xử vắng mặt, do đó Hội đồng xét xử thống nhất tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại Điều 227, 228 và Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
- Về pháp luật nội dung:
[1]. Về quan hệ hôn nhân: Chị H và anh M có quen biết tìm hiểu nhau từ năm 2002 rồi đi đến hôn nhân, có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn ngày 10/12/2002 tại UBND xã B, huyện T, tỉnh Vĩnh Long nên được pháp luật công nhận là hôn nhân hợp pháp.
Theo Phạm Thị H trình bày: Thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc nhưng đến năm 2024 thì vợ chồng phát sinh mẫu thuẫn do vợ chồng bất đồng ý kiến với nhau về những việc trong cuộc sống gia đình. Mặc dù vợ chồng đã nhiều lần hàn gắn nhưng không được. Do vậy vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 3 năm 2024 cho đến nay. Từ lúc ly thân đến nay thì mạnh ai nấy sống, không còn quan tâm gì đến nhau không hàn gắn được chuyện gia đình. Chị thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Văn M.
Xét thấy, quan hệ hôn nhân của vợ chồng phải được xây dựng trên cơ sở tình cảm tự nguyện, có sự quan tâm chăm sóc lẫn nhau, vun đắp hạnh phúc, làm tròn quyền và nghĩa vụ của vợ chồng, tuy nhiên hiện tại vợ chồng chị H, anh M đã sống ly thân, mỗi người ở một nơi, không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. Qua đó cho thấy hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Việc chị H và anh M sống ly thân, mỗi người một nơi là đã vi phạm khoản 1, Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014: “Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình”. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị H được ly hôn với anh M là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014: “... Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được”.
[2]. Về con chung: Chị Phạm Thị H khai có 01 con chung là Nguyễn Văn Q, sinh ngày 19/12/2003, anh Nguyễn Văn M cũng chưa có văn bản nào trình bày về con chung nào khác, hiện đã trưởng thành nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.
[3]. Về tài sản chung, nợ chung: Chị Phạm Thị H khai chưa yêu cầu, anh Nguyễn Văn M cũng chưa có văn bản nào trình bày về tài sản chung, nợ chung, nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.
[4]. Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, 227, 228, 238, 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ các Điều 19, 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ vào 27 của Nghị quyết số 326, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[1]. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Phạm Thị H được ly hôn với anh Nguyễn Văn M.
[2]. Về con chung: Chị Phạm Thị H khai có 01 con chung là Nguyễn Văn Q, sinh ngày 19/12/2003 hiện đã trưởng thành, nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.
[3]. Về tài sản chung, nợ chung: Do chưa có yêu cầu, nên không đặt ra giải quyết.
[4]. Về án phí: Chị Phạm Thị H phải nộp án phí dân sự sơ thẩm về việc xin ly hôn là 300.000đ nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số No 0002135, ngày 28/03/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long (Nay là Phòng thi hành án dân sự khu vực 2 – Vĩnh Long). Chị Phạm Thị H đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án; quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
[5]. Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Vĩnh Long; - VKSND khu vực 2 – Vĩnh Long; - Phòng THADS khu vực 2 – Vĩnh Long; - UBND xã Ngãi Tứ, tỉnh Vĩnh Long. - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Bảo |