vanban.org

Bản án 25/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Không công nhận chị Huỳnh Mộng K với anh Lê Vĩ K là vợ chồng.

Về con chung: Giao con chung tên Huỳnh Minh Anh, sinh ngày 14/02/2025 đang sống cùng chị K cho chị Huỳnh Mộng K tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng. Về cấp dương nuôi con: Buộc anh Lê Vĩ K phải cấp dưỡng nuôi cháu Huỳnh Minh Anh mỗi tháng 1.725.000 đồng cho đến khi cháu Anh đủ 18 tuổi. Thời hạn cấp dưỡng … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Huỳnh Mộng K xin ly hôn Lê Vĩ K"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Không công nhận chị Huỳnh Mộng K với anh Lê Vĩ K là vợ chồng.
  • Căn cứ chính? Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình; Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP Hướng…; Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 2 - CÀ MAU
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 25/2025/HNGĐ-ST
Ngày 15 - 8 -2025
“V/v không công nhận vợ chồng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Kim Cương

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Phi Hùng

Ông Hồ Quốc Văn

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Phượng K – Là thư ký Toà án nhân dân khu vực 2 – Cà Mau.

Ngày 15 tháng 8 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 2 - Cà Mau xét xử sơ thẩm vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 185/2025/TLST- HNGĐ ngày 12 tháng 6 năm 2025 về việc yêu cầu xin ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 7 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Huỳnh Mộng K, sinh ngày 04/5/2007; số CCCD: xxxxxxxxxxxxx (có mặt).

Địa chỉ cư trú: Ấp QT, xã BB, tỉnh Cà Mau.

- Bị đơn: Anh Lê Vĩ K, sinh năm 2005 (vắng mặt)

Địa chỉ cư trú: Ấp TC, xã BB, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Nguyên đơn chị Huỳnh Mộng K trình bày tại đơn khởi kiện như sau:

Về hôn nhân: Chị và anh Lê Vĩ K chung sống với nhau vào tháng 05/2024 nhưng không đăng ký kết hôn theo quy định. Trong thời gian chung sống chị và anh Lê Vĩ K phát sinh nhiều mâu thuẫn, xung đột gia đình xãy ra không hàn gắn được nên chị và anh K không chung sống khoảng 02 tháng nay. Hiện chị xác định sống chung với anh K không hạnh phúc nên yêu cầu xin Toà án không công nhận vợ chồng với anh Lê Vĩ K.

Về con chung: Chị và anh K có 01 con chung tên Huỳnh Minh Anh, sinh ngày 14/02/2025. Hiện con đang sống cùng chị, nay chị yêu cầu nuôi con chung và yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

Về tài sản chung: Chị và anh K không có tài sản chung.

Về nợ chung: Chị và anh K không có nợ chung.

- Bị đơn anh Lê Vĩ K đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa và giấy triệu tập tham gia phiên tòa xét xử lần thứ hai nhưng anh Lê Vĩ K khước từ nhận văn bản tố tụng và vắng mặt không có lý do, cũng không có văn bản ý kiến gửi đến Tòa án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về nội dung tranh chấp: Tranh chấp giữa chị Huỳnh Mộng K với anh Lê Vĩ K được xác định là tranh chấp về yêu cầu không công nhận vợ chồng, bị đơn anh Lê Vĩ K có nơi cư trú tại xã Biển Bạch, tỉnh Cà Mau nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 2- Cà Mau theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn anh Lê Vĩ K đã được Toà án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng anh K khước từ nhận văn bản tố tụng và vắng mặt không lý do. Vì vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng anh K theo quy định tại Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[3] Về hôn nhân: Chị Huỳnh Mộng K với anh Lê Vĩ K tự nguyện chung sống với nhau như vợ chồng vào tháng 5/2024 nhưng không đăng ký kết hôn, khi chung sống với nhau như vợ chồng chị K và anh K chưa đủ điều kiện đăng ký kết hôn theo quy định. Do đó, hôn nhân giữa chị Huỳnh Mộng K với anh Lê Vĩ K đã vi phạm pháp luật về mặt hình thức. Quá trình chung sống do có mâu thuẫn, nên chị K yêu cầu Toà án không công nhận chị với anh K là vợ chồng. Căn cứ Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC- BTP ngày 06 tháng 01 năm 2016 hướng dẫn thi hành quy định của Luật Hôn nhân và gia đình thì quan hệ hôn nhân giữa chị K và anh K không được pháp luật công nhận là vợ chồng.

[4] Về con chung: Chị Huỳnh Mộng K với anh Lê Vĩ K có 01 con chung tên Huỳnh Minh Anh, sinh ngày 14/02/2025. Con đang sống cùng chị K, hiện chị K yêu cầu nuôi con. Hội đồng xét xử xét thấy, cháu Minh Anh hiện dưới 36 tháng tuổi đang sống cùng chị K, anh K cũng không có ý kiến về việc nuôi con chung nên tiếp tục giao con chung cho chị K nuôi dưỡng là phù hợp.

[5] Về cấp dưỡng nuôi con chị K yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật cho đến khi con đủ 18 tuổi. Hội đồng xét xử xét thấy: Căn cứ khoản 2 Điều 82 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn như sau: “Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con”. Việc cấp dưỡng nuôi con là quyền lợi của con. Mức cấp dưỡng do người có nghĩa vụ cấp dưỡng và người được cấp dưỡng hoặc người giám hộ của người đó thỏa thuận căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng và nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng. Mức cấp dưỡng nuôi con bao gồm những chi phí hợp lý ăn uống, học hành ... nhưng không thấp hơn 50% mức lương tối thiểu vùng. Hiện cháu Minh Anh đang sống ở vùng IV tương ứng số tiền lương vùng là 3.450.000 đồng x 50% = 1.725.000 đồng/tháng. Nên yêu cầu của chị K về việc buộc anh K cấp dưỡng nuôi con là phù hợp nên được chấp nhận.

Anh K không trực tiếp nuôi con, nhưng có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở.

[6] Về tài sản chung: Chị Huỳnh Mộng K khai không có tài sản chung, không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[7] Về nợ chung: Chị Huỳnh Mộng K khai không có nợ chung nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[8] Án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình: Chị K phải chịu theo quy định. Án phí về cấp dưỡng nuôi con anh K phải chịu.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 28, 35, 147, 227, 228, 271 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 14, 15, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06 tháng 01 năm 2016 hướng dẫn thi hành quy định của Luật Hôn nhân và gia đình thì quan hệ hôn nhân; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Về hôn nhân: Không công nhận chị Huỳnh Mộng K với anh Lê Vĩ K là vợ chồng.

Về con chung: Giao con chung tên Huỳnh Minh Anh, sinh ngày 14/02/2025 đang sống cùng chị K cho chị Huỳnh Mộng K tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng.

Về cấp dương nuôi con: Buộc anh Lê Vĩ K phải cấp dưỡng nuôi cháu Huỳnh Minh Anh mỗi tháng 1.725.000 đồng cho đến khi cháu Anh đủ 18 tuổi. Thời hạn cấp dưỡng tính kể từ ngày bản án có hiệu lực.

Kể từ ngày chị K có đơn yêu cầu thi hành án, nếu anh K không tự nguyện thi hành xong khoản tiền cấp dưỡng nêu trên thì hàng tháng còn phải chịu thêm khoản lãi phát sinh theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự và Luật Thi hành án dân sự.

Anh Lê Vĩ K không trực tiếp nuôi con, nhưng có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở.

Về tài sản chung; nợ chung: Hội đồng xét xử không xem xét.

Án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình là 300.000 đồng, chị Huỳnh Mộng K phải chịu. Chị K đã nộp tạm ứng án phí số tiền 300.000 đồng theo biên lai số 0022446 vào ngày 09/6/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thới Bình được đối trừ, chị K đã nộp đủ. Án phí về cấp dưỡng nuôi con anh Lê Vĩ K phải chịu 300.000 đồng (chưa nộp).

Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ