- Tranh chấp gì? Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về danh dự, nhân phẩm, uy tín — án dân sự — "Nguyễn Xuân B và Trần Trung H Tranh chấp bồi thường thiệt hại do danh dự nhân phẩm , uy tín bị xâm phạm."
- Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa XIV Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án
- Căn cứ chính? Điều 34 Bộ luật Dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12-THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 25 /2025/DS-ST Ngày: 19-8-2025 V/v “Tranh chấp bồi thường thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm và yêu cầu công khai xin lỗi.” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thảo Nguyên
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Bạch Gương
2. Bà Ngô Thị Chiến
- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Lê Anh Thơ - Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 - thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Bà Hoàng Thị Hồng - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 8 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 12 - thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 22/2025/TLST-DS ngày 13 tháng 01 năm 2025 về việc “Tranh chấp bồi thường thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm và yêu cầu công khai xin lỗi” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 07/2025/QĐXX-DS ngày 22/7/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 12 – Thành phố Hồ Chí Minh giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Xuân B, sinh năm: 1978. (có mặt)
Nơi cư trú: Kp Ô, phường TP, thành phố Hồ Chí Minh.
- Bị đơn: Ông Trần Trung H, sinh năm: 1985 (vắng mặt)
HKTT: Thôn TN, xã CP, thành phố Hồ Chí Minh.
Chỗ ở hiện nay: 2320 – 2343 đường ĐL, phường PM, thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền của ông Trần Trung H: Ông Bùi Công A, sinh năm: 1976. HKTT: 41 Ngõ 210 ĐC, phường TK, thành phố Hà Nội. Chỗ ở hiện nay: 11 DB, phường P, thành phố Hồ Chí Minh. (có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Nguyễn Xuân B trình bày:
Ngày 15/6/2021, ông đại diện cho Văn phòng công chứng Bùi Thị N ký hợp đồng mua bán số 09/2021/HĐMB với Công ty TNHH dịch vụ và thương mại cơ điện lạnh Quốc H (gọi tắt là công ty Quốc H) do ông Trần Trung H làm giám đốc về việc thi công lắp đặt máy lạnh âm trần. Trong thời gian thi công lắp đặt công ty ông H đã lắp đặt không đúng theo nội dung hợp đồng đã ký kết và hai bên đã xảy ra mâu thuẫn. Ông H buộc ông phải trả số tiền còn lại của hợp đồng. Ông không đồng ý và báo ông H phải thực hiện theo đúng cam kết, nếu không giải quyết được thì một trong hai bên khởi kiện yêu cầu Tòa án hoặc trọng tài giải quyết. Nhưng ông H và vợ là bà Lê Thị Hồng G đã nhiều lần đến gia đình ông gây sự đòi tiền, có những lời lẽ xúc phạm uy tín, danh dự của ông. Cụ thể:
Ngày 25/5/2023, tại trường tiểu học QT, phường PM, thành phố P, tỉnh Bà Rịa –Vũng Tàu (nay là phường PM, thành phố Hồ Chí Minh), vợ ông đang dự buổi lễ tổng kết của con, ông H và vợ là bà Gấm đã xúc phạm vợ ông.
Ngày 02/8/2023, tại quán cafe N trung tâm thương mại thị xã PM, tỉnh Bà Rịa –Vũng Tàu (nay là phường PM, thành phố Hồ Chí Minh), khi ông đang uống cafe cùng với bạn, thì ông H vào và xúc phạm ông với lời lẽ như: “Người bị câm, ra đường nhục mặt chui xuống lỗ và thấy chỗ nào cũng đòi nợ, sống trên đời nợ phải trả luật nào không bằng luật đời luật nhân quả, để đức cho con cháu, ăn giật của người ta con cháu sẽ lãnh đủ, giật của người ta người khác sẽ giật lại, ở trong nhà to ăn đi giật, làm trong ban đại diện học sinh bao nhiêu gương mặt người ta nhìn thấy mình sống không có đạo đức, đòi nợ mặt vênh vênh không nói câu nào, con người không có đạo đức học làm gì cho cao, có dạy con không vô đạo đức”. Nội dung ông H trình bày đã thể hiện cụ thể trong Vi bằng ông cung cấp cho tòa án.
Ngày 03/8/2023, ông đã gửi đơn tố cáo đến Cơ quan cảnh sát điều tra công an thị xã PM, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xem xét giải quyết về việc ông H xúc phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của ông, các con ông theo quy định của pháp luật. Ngày 05/9/2023, Chủ tịch UBND phường PM, thị xã P tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 296/QĐ-XPHC đối với ông H bằng hình thức phạt tiền.
Đến khoảng 10 giờ 40 phút ngày 15/9/2023, khi ông đang đi đón con tại cổng trường tiểu học QT, ông H lại đến đòi tiền và tiếp tục dùng lời lẽ xúc phạm danh dự nhân phẩm của ông và các con ông. Sự việc đã được ông quay lại và lập vi bằng.
Ngày 15/9/2023, ông có đơn tố cáo hành vi của ông H nhưng công an phường từ chối nhận vì cho rằng đây là việc dân sự. Ngày 15/9/2023, ông có đơn tố cáo đến cơ quan cảnh sát điều tra công an tỉnh Bà Rịa –Vũng Tàu. Ngày 21/9/2013 công an tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đã có phiếu chuyển đơn đến công an thị xã PM. Khoảng 15 giờ 39 phút, ngày 16/9/2023, ông H tiếp tục đến nhà đòi tiền ông, ông đã yêu cầu ông H muốn gì ra Tòa án hoặc cơ quan công an để giải quyết theo quy định của pháp luật nhưng ông H cố tình không tuân theo pháp luật mà có hành vi cố ý bắt ép ông phải trả tiền.
Do đó ông khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:
1. Buộc ông Trần Trung H công khai xin lỗi ông tại cổng trường tiểu học QT phường PM, thị xã P, tỉnh Bà Rịa –Vũng Tàu và tại quán cafe N trung tâm thương mại thị xã PM, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (nay là phường PM, thành phố Hồ Chí Minh).
2. Bồi thường tổn thất về tinh thần cho ông do bị xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín là 10 tháng lương bằng 18.000.000 đồng (Mười tám triệu đồng).
Quá trình làm việc tại tòa, bị đơn, người đại diện theo ủy quyền của bị đơn ông Bùi Công A trình bày:
Ngày 15/6/2021, Công ty Quốc H của ông H có ký Hợp đồng mua bán số 09/2021/HĐMB về việc thi công lắp đặt máy lạnh âm trần với Văn phòng công chứng Bùi Thị N của ông B. Thực hiện hợp đồng, công ty ông H đã thi công lắp đặt hệ thống máy lạnh cho ông B nhưng sau đó khi nhân viên ông đến nhà ông B để nghiệm thu công trình thì xảy ra mâu thuẫn với ông B. Ông B đã chửi mắng, xúc phạm, lấy đá ném gây thương tích cho nhân viên của ông. Cùng chiều hôm đó, ông B cho người đến nhà ông H uy hiếp đe dọa ông H. Ông H đã trình báo công an phường PM. Sau đó, công an phường đã mời hai bên lên làm việc, giản hòa. Tại công an, ông H đồng ý bỏ qua cho ông B. Tuy nhiên đến nữa năm sau, ông B vẫn không trả tiền cho ông H. Do đó, ông H đã liên hệ ông B để giải quyết liên quan đến hợp đồng lắp đặt và yêu cầu thanh toán tiền. Ông B tránh né không tiếp ông. Ông H nhiều lần đề nghị với ông B nếu thi công có vấn đề thì bên ông H sẽ sửa, tiền thiếu thì ông B phải thanh toán nhưng ông B không hợp tác nên ông H rất bức xúc. Ông H xác nhận nội dung ông B lập vi bằng ghi nhận đúng. Tuy nhiên, ông H nói như vậy tại nơi đông người là do ông B không trả tiền còn tránh né không gặp ông H. Nay ông H xin lỗi ông B vì có những lời lẽ nặng nề, nhưng ông H không đồng ý công khai xin lỗi tại cổng trường QT và tại quán café N. Ông H không đồng ý bồi thường thiệt hại tinh thần cho ông B. Vì ông B là người sai trước. Ông B đã đánh nhân viên của ông H và thiếu tiền nhưng không trả.
Ông B cho rằng bên ông H đã tự ý lắp đặt máy là không đúng. Ông B chỉ như thế nào thì nhân viên ông H thực hiện lắp như vậy. Hiện ông B đã trả tiền nợ của hợp đồng cho ông vào khoảng tháng 9/2013, nhưng vẫn còn thiếu VAT. Trong vụ án này ông không có yêu cầu gì về tiền hợp đồng.
Tại phiên tòa:
- Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
- Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn ý kiến: Bị đơn đồng ý công khai xin lỗi theo yêu cầu của nguyên đơn nhưng không đồng ý bồi thường tổn thất tinh thần.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 – thành phố Hồ Chí Minh phát biểu:
Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự từ giai đoạn thụ lý, chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa. Về việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Nguyên đơn, bị đơn đã chấp hành đúng quy định tại Điều 70, Điều 71, Điều 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung:
Căn cứ các Điều 26, 35, 39, Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 34, Khoản 1 Điều 584, 585, 586 Bộ luật Dân sự 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, đề nghị Hội đồng xét xử xét xử theo hướng: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
- Buộc ông Trần Trung H công khai xin lỗi ông Nguyễn Xuân B tại Trụ sở UBND phường PM, thành phố Hồ Chí Minh.
- Không chấp nhận yêu cầu về việc bồi thường tổn thất về tinh thần cho ông Bách do bị xúc phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín với 10 tháng lương là 18.000.000 đồng.
- Về án phí: Nguyên đơn, bị đơn chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử sơ thẩm nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:
Ông Nguyễn Xuân B khởi kiện yêu cầu tòa án giải quyết buộc ông Trần Trung H công khai xin lỗi và bồi thường tổn thất về tinh thần cho ông do hành vi xúc phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của ông H gây ra nên quan hệ tranh chấp là “Tranh chấp bồi thường thiệt hại do danh dự nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm và yêu cầu công khai xin lỗi” theo quy định tại Khoản 6 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
Bị đơn ông Trần Trung H có nơi cư trú tại phường M, thành phố Hồ Chí Minh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 12 – thành phồ Hồ Chí Minh theo quy định tại điểm a Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; Khoản 2 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự số 85/2025/QH15 ngày 25/6/2025.
Về việc thay đổi người tham gia tố tụng:
Quá trình giải quyết vụ án, tòa án xác định Công ty Quốc H và bà Lê Thị Hồng G là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Tuy nhiên, qua các tài liệu chứng cứ thu thập được thể hiện ông B đã thanh toán tiền dịch vụ của hợp đồng thi công lắp đặt máy lạnh âm trần cho công ty Quốc H. Ông H, công ty Quốc H không có yêu cầu gì thêm. Đối với bà G, ông B xác nhận các ngày 25/5/2023 và 02/8/2023, bà G không xúc phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của ông nên không yêu cầu gì liên quan đến bà G. Do đó, Hội đồng xét xử nhận thấy không cần đưa Công ty Quốc H và bà Lê Thị Hồng G vào tham tố tụng với tư cách là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.
[2] Về nội dung:
Ông Nguyễn Xuân B khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết: Buộc ông Trần Trung H công khai xin lỗi ông tại cổng trường tiểu học QT và quán cà phê N thuộc phường P, thành phố Hồ Chí Minh và bồi thường tổn thất về tinh thần cho ông do bị xúc phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín với 10 tháng lương là 18.000.000 đồng (Mười tám triệu đồng).
Hội đồng xét xử xét thấy:
Ngày 15/6/2021, ông B và Công ty Quốc H do ông H làm giám đốc ký kết với nhau hợp đồng thi công lắp đặt máy lạnh âm trần. Quá trình thi công xảy ra mâu thuẫn, ông B không thanh toán tiền cho ông H. Ông H và vợ là bà G đã nhiều lần đến nhà ông B yêu cầu trả tiền nhưng ông B không trả. Ngày 25/5/2023 tại trường tiểu học QT và ngày 02/8/2023 tại quán cà phê N thuộc phường M, thành phố Hồ Chí Minh, ông H đã có lời lẽ xúc phạm đến uy tín, danh dự, nhân phẩm ông B. Ông B có ghi âm và lập Vi bằng số 59/2025/VB-TPLBRVT ngày 31/3/2025 tại Văn phòng thừa phát lại Bà Rịa-Vũng Tàu. Ngày 05/9/2023, Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường PM, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 296/QĐ-XPHC đối với ông H.
Theo yêu cầu của ông B, ông H đồng ý công khai xin lỗi ông B. Đây là sự tự nguyện của ông H, không trái quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện của bị đơn. Về địa điểm công khai xin lỗi, Hội đồng xét xử xét thấy, quán café N là tài sản của cá nhân, việc tổ chức thi hành công khai xin lỗi tại quán café N sẽ ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh bình thường của quán. Ngoài ra, tổ chức công khai xin lỗi tại quán khi không có sự đồng ý của chủ quán là vi phạm quyền định đoạt của chủ tài sản. Do đó, không có cơ sở để chấp nhận yêu cầu khởi kiện này của ông B. Đối với yêu cầu công khai xin lỗi tại cổng trường tiểu học QT, Hội đồng xét xử xét thấy trường học là môi trường giáo dục, việc tập trung đông người để tổ chức công khai xin lỗi sẽ gây mất trật tự tại cổng trường, ảnh hưởng đến hoạt động dạy và học bình thường của học sinh và giáo viên. Do đó, trường học cũng không phải nơi phù hợp để tổ chức công khai xin lỗi. Nên căn cứ Khoản 1, Khoản 5 Điều 34 Bộ luật Dân sự 2015, chấp nhận yêu cầu của ông B buộc ông H phải công khai xin lỗi ông B do đã có hành vi xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của ông B. Và địa điểm công khai xin lỗi là tại Ủy ban nhân dân phường PM, thành phố Hồ Chí Minh.
Đối với yêu cầu bồi thường tổn thất về tinh thần cho ông B do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm là 10 tháng lương_18.000.000 đồng (Mười tám triệu đồng). Xét các ngày 25/5/2023, 02/8/2023, ông H đã có hành vi xúc phạm đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của ông B là đúng. Tuy nhiên, ông B không xác định được thiệt hại xảy ra do danh dự, uy tín, nhân phẩm bị ông H xâm phạm. Bên cạnh đó, nguyên nhân mâu thuẫn dẫn đến việc ông H có hành vi xúc phạm ông B cũng một phần do lỗi của ông B. Ông B đã không thanh toán tiền thi công lắp đặt máy lạnh âm trần cho ông H. Nên căn cứ cụ thể vào hành vi, mức độ xâm phạm đến danh dự, uy tín, nhân phẩm, thiệt hại xảy ra, lỗi của các bên và quy định tại các Điều 584, 585, 586, 592 của Bộ luật Dân sự 2015, không chấp nhận yêu cầu của ông Bách về việc buộc ông H bồi thường khoản tiền bù đắp tổn thất tinh thần là 18.000.000 đồng.
Đối với việc ông H cho rằng ông B có đánh nhân viên ông B nhưng không xuất trình được tài liệu chứng cứ nên không có cơ sở để Hội đồng xét xem xét.
[3] Về án phí sơ thẩm:
Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận một phần nên bị đơn phải chịu án phí không có giá ngạch là 300.000 đồng.
Nguyên đơn được miễn án phí đối với yêu cầu về bồi thường thiệt hại do danh sự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm bị bác.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ Khoản 6 Điều 26, điểm a Khoản 1 Điều 39, Khoản 1 Điều 147, Điều 207 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Khoản 2 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự số 85/2025/QH15 ngày 25/6/2025
Điều 34, Điều 584, Điều 585, Điều 586, Điều 857, Điều 592 của Bộ luật Dân sự 2015.
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa XIV Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Xuân B về việc buộc ông Trần Trung H công khai xin lỗi ông.
Buộc ông Trần Trung H công khai xin lỗi ông Nguyễn Xuân B do ông H có hành vi xúc phạm danh dự nhân phẩm, uy tín của ông B. Địa điểm công khai xin lỗi là Ủy ban nhân dân phường PM, thành phố Hồ Chí Minh.
2. Bác yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Xuân B về việc buộc ông Trần Trung H bồi thường tổn thất về tinh thần cho ông do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm là 10 tháng lương cơ sở: 18.000.000 đồng (Mười tám triệu đồng).
3. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Ông Trần Trung H phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo:
Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án các đương sự có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tp.HCM; - VKSND tp.HCM; - VKSND KV12-tp.HCM; - THADS tp.HCM; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Trần Thị Thảo Nguyên |