- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vời Văn Ư, phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÌN HỒ TỈNH LAI CHÂU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 25/2024/HSST Ngày: 25/12/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÌN HỒ, TỈNH LAI CHÂU
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phan Hồng Ngoãn.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Thu.
Ông Lê Văn Hà.
Thư ký phiên toà: Ông Hờ A Thái, Thư ký Toà án nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu tham gia phiên toà: Bà Lê Ngọc Trang, Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 25/2024/TLST- HS, ngày 04 tháng 11 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 30/2024/QĐXXST –HS, ngày 11 tháng 12 năm 2024, đối với bị cáo:
Vời Văn Ư, sinh năm: 1993; Tên gọi khác: không có tên gọi khác; tại: huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu. Nơi thường trú và chỗ ở hiện nay: bản Noong O, xã N H, huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Đoàn, Đảng: không; Trình độ học vấn: 0/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam. Con ông: Vời Văn V (tên gọi khác: B ), sinh năm 1971; Con bà: Lò Thị M (Vời Thị M ), sinh năm: 1972; Bị cáo chưa có vợ, con. Tiền sự: không; Tiền án: có 01 tiền án, tại Bản án hình sự sơ thẩm số 13/2021/HSST, ngày 22/4/2021 của Tòa án nhân dân huyện sìn Hồ, tỉnh Lai Châu, Vời Văn Ư bị xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Ngày 15/5/2022, Vời Văn Ư đã chấp hành xong hình phạt, tính đến ngày thực hiện phạm tội ngày 09/8/2023 bị cáo chưa được xóa án tích. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/8/2024 đến nay, có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo: Ông Nguyễn Công Hưởng, là Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Lai Châu, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 13 giờ 00 phút ngày 09/08/2024, Lò Văn Toàn rủ Vời Văn Ư góp tiền mua Heroine để sử dụng, Ưnhất trí,, Ưvà Toàn mỗi người góp 100.000 đồng, Cả hai người, Ưvà Toàn đi đến nhà Cà Văn Thời, trú tại: bản Nậm Há, xã Noong Hẻo, huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu để mua Heroine, tại nhà Thời, Toàn đưa cho Thời số tiền 200.000 đồng, Thời nhận tiền, đưa cho Toàn 01 gói Heroine, gói ngoài bằng tờ vé xổ số kiến thiết Lai Châu. Mua được Heroine, Toàn đưa cho Ưcầm, cả hai đi bộ ra cầu Nậm Lấu, thuộc bản Noong Hẻo 1, xã Noong Hẻo, huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu để sử dụng, Khi Toàn và Ưđang xuống gầm cầu Nậm Lấu thì bị Công an xã Noong Hẻo, huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu bắt quả tang thu giữ trong tay trái của Ư01 gói chất bột màu trắng, theo lời khai của Ưvà Toàn đây là Heroine.
Qua xác định khối lượng và giám định chất ma túy, tại kết luận giám định tư pháp số: 77, ngày 10/8/2023 của người giám định theo vụ việc, đã xác định 01 gói bột, màu trắng thu giữ của Cà Văn Ưvà Lò Văn Toàn có khối lượng là 0,02 gam. Tại bản Kết luận giám định số: 949/GĐ–KTHS, ngày 15/8/2023 của Phòng k thuật hình sự Công an tỉnh Lai Châu kết luận: 01 mẫu bột khô, màu trắng thu giữ củaVời Văn Ư và Lò Văn Toàn gửi đến giám định là ma túy, loại Heroine. Căn cứ khối lượng Heroine thu giữ và mục đích tàng trữ Heroine của Toàn và Ưchưa đủ để truy cứu trách nhiệm hình sự về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, nên cùng ngày Cơ quan điều tra đã trả tự do cho Toàn và Ươi. Sau khi mở rộng Điều tra, xác định, năm 2021, Vời Văn Ư bị Tòa án nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu xử phạt 01 năm 06 tháng về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, ngày 15/8/2022, Vời Văn Ư chấp hành xong hình phạt, tính đến ngày thực hiện hành vi phạm tội ngày 09/8/2023 bị cáo chưa được xóa án tích. Do vậy, cơ quan Điều tra đã ra quyết định khởi tố bị can đối với Vời Văn Ư về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đối với hành vi bán trái phép chất ma túy của Cà Văn Thời cho Vời Văn Uơi và Lò Văn Toàn, Cơ quan điều tra đã khởi tố đối với Cà Văn Thời về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và đã được tách ra để xử lý trong vụ án khác. Đối với Lò Văn Toàn qua xác minh xác định ngày 11/11/2022 Lò Văn Toàn bị Công an Quận Hà Đông, Hà Nội xử phạt hành chính phạt tiền 3.500.000 đồng về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, cơ quan Điều tra đã khởi tố bị can và ra lệnh bắt bị can, nhưng Lò văn Toàn không có mặt tại địa phương. Do thời hạn điều tra đã hết, nên cơ quan Điều tra tách vụ án để xử lý sau khi có đủ căn cứ.
Tại Cáo trạng số: 85/CT- VKS, ngày 04 tháng 11 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu đã truy tố bị cáo Vời Văn Ư về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Vời Văn Ư, phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 249, điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Vời Văn Ư từ 01 năm đến 01 năm 02 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/8/2024; Về hình phạt bổ sung: đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự; Về vật chứng: không xem xét giải quyết; Về án phí: căn cứ điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Vời Văn Ư, do bị cáo là người dân tộc thiểu số, gia đình bị cáo thuộc hộ nghèo, sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế- xã hội đặc biệt khó khăn.
Người bào chữa trình bày luận cứ bào chữa cho bị cáo: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử tại phiên tòa, bị cáo Vời Văn Ư luôn thành khẩn khai báo, ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo tự thú về hành vi phạm tội của mình và đã tích cực giúp đỡ Cơ quan Cảnh sát điều tra trong việc phát hiện thêm tội phạm mới; bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế- xã hội đặc biệt khó khăn nên nhận thức pháp luật còn có phần hạn chế nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng tại điểm a khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Để giảm nhẹ hình phạt bị cáo mức thấp nhất của khung hình phạt; bị cáo làm nghề lao động tự do và thu nhập không ổn định, gia đình có hoàn cảnh khó khăn thuộc trường hợp người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội-đặc biệt khó khăn theo quyết định 861/QĐ-TTg ngày 04/6/2021 của Thủ tưởng chính phủ quy định về vùng miền khó khăn giai đoạn năm 2021- năm 2025. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử, không áp dụng hình phạt bổ sung và miễn án phí hình sự cho bị cáo đối với bị cáo, theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự; và điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng đã truy tố, lời khai của bị cáo phù hợp với các lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp các tài liệu trong hồ sơ vụ án. Bị cáo nhất trí với luận cứ bào chữa của người bào chữa, không có ý kiến bổ sung thêm; Bị cáo nhất trí luận tội và đề nghị của kiểm sát viên, không có ý kiến tranh luận, không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan Điều tra Công an huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu và Điều tra viên, Kiểm sát viên được phân công điều tra, truy tố, trong quá trình thực hiện đã tuân thủ đúng theo quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục của Bộ luật Tố tụng hình sự, người bào chữa cho bị cáo tại phiên tòa đã chấp hành nghiêm túc, thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ của người bào chữa. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, người bào chữa. Hành vi, quyết định của các Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, người bào chữa đã thực hiện đều hợp pháp, đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[ 2 ] Về hành vi phạm tội của bị cáo nhận thấy: Vào hồi 14 giờ 00 phút, ngày 09/8/2023, tại gầm cầu Nậm Lấu, xã Noong Hẻo, huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu, Công an xã Noong Hẻo, huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu đã phát hiện, bắt quả tang Vời Văn Ư đang có hành vi tàng trữ 01 gói Heroine có khối lượng 0,02 gam, Vời Văn Ư tàng trữ Heroine với mục đích để sử dụng (hít). Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 13/2021/HSST, ngày 22/4/2021 của Tòa án nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu đã xử phạt bị cáo Vời Văn Ư 01 năm 06 tháng tù, ngày 15/5/2022 Vời Văn Ư đã chấp hành xong hình phạt tù. Đến ngày 09/8/2023, Vời Văn Ư thực hiện hành vi tàng trữ trái phép 0,02 gam Heroine, căn cứ vào Điều 70 BLHS, Vời Văn Ư chưa được xóa án tích. Như vậy, hành vi tàng trữ trái phép 0,02 gam Heroine của Vời Văn Ư ngày 09/8/2023 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 249 BLHS. Điểm a khoản 1 điều 249 BLHS quy định”Đã bị xử lý hành chính về hành vi quy định tại Điều này, hoặc đã bị kết án về tội này hoặc một trong các tội quy định tại các điều 240, 250, 251, 252 của bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm”.
Do vậy, Cáo trạng số: 85/CT – VKS, ngày 04 tháng 11 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sìn Hồ truy tố đối với Vời Văn Ư về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[ 3 ] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, nhận thấy, bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức rõ việc tàng trữ Heroine là vi phạm pháp luật, nhưng do bị cáo là người nghiện chất ma túy, nên bị cáo vẫn cố ý thực hiện, bị cáo thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi của bị cáo thực hiện là nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm vào chính sách độc quyền về quản lý các chất ma tuý của Nhà nước, ảnh hưởng xấu đến an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội. Do vậy, cần phải có mức hình phạt nghiêm khắc, xử phạt tù đối với bị cáo để dăn đe, giáo dục đối với bị cáo và cũng là để phòng, chống các loại tội phạm, đặc biệt là các tội phạm về ma túy tại địa phương. Tuy nhiên, khi xem xét mức hình phạt cần phải xem xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo.
Về nhân thân: Bị cáo có nơi cư trú rõ ràng; bị cáo là người nghiện chất ma túy; Năm 2021 bị cáo đã bị xét xử 01 năm 06 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuy, sau khi chấp hành phạt tù bị cáo không tự tu dưỡng rèn luyện mình, trở thành công dân có ích cho xã hội, mà lại tiếp tục tàng trữ ma túy để sử dụng.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa. Bị cáo luôn thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; Bị cáo đã tích cực giúp đỡ Cơ quan điều tra trong việc khám phá, phát hiện tội phạm mới. Sau khi nhận thức được hành vi của mình là vi phạm, bị cáo đã đến Cơ quan Công an đầu thú. Bị cáo là người dân tộc thiểu số, gia đình thuộc hộ nghèo, sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế- xã hội đặc biệt khó khăn nên nhận thức pháp luật còn có phần hạn chế, theo Quyết định số 861/QĐ-TTg ngày 04/6/2021 của Thủ tướng Chính phủ. Vì vậy bị cáo được hưởng những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[ 4 ] Về hình phạt bổ sung: xét thấy bị cáo làm nghề lao động tự do và thu nhập không ổn định, gia đình bị cáo khó khăn. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo, theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
[ 5] Về xử lý vật chứng: đối với 0,02 gam Heroine thu giữ trong quá trình bắt người phạm tội quả tang đối với Lò Văn T và Vời Văn Ư, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Sìn Hồ đã gửi toàn bộ đi giám định (không hoàn lại mẫu vật) và 01 mảnh giấy có chữ Xổ số kiến thiết Lai Châu đã được xử lý bằng hình thức tiêu hủy theo bản án số 54/2024/ HSST ngày 02/7/2024 của Tòa án nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu đối với Cà Văn Th , về tội Mua bán trái phép chất ma túy nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[ 6 ] Về án phí hình sự sơ thẩm: Xét thấy, bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở xã có điều kiện kinh tế-xã hội đặc biệt khó khăn. Tại phiên tòa bị cáo có ý kiến xin được miễn án phí hình sự sơ thẩm. Căn cứ Điều 135 và Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Miễn 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Về quyền kháng cáo: theo quy định tại các Điều 331, Điều 332, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Về trách nhiệm của chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú và các vấn đề liên quan: Thông qua vụ án này, đề nghị cấp chính quyền địa phương các xã thị trấn, huyện Sìn Hồ cần nâng cao tuyên truyền, giải thích cho người dân có ý thức chấp hành tốt các chủ trương đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước. Tăng cường đấu tranh phòng chống tệ nạn ma túy và có các biện pháp giữ gìn trật tự an ninh trên địa bàn.
Vấn đề liên quan: Theo lời khai của Vời Văn Ư số Heroine bị thu giữ là do Toàn và Ưmua của Cà Văn Thời, hành vi “Mua bán trái phép chất ma túy” của Cà Văn Thời cho Lò Văn Toàn và Vời Văn Ư ngày 09/8/2023 đã được xét xử bằng Bản án số: 54/HSST, ngày 02/7/2024 của Tòa án nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Đối với Lò Văn T ; trú tại bản Noong O, xã N H, huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu là người góp tiền cùng với Ưvà cùng Ưđi mua ma túy để sử dụng. Quá trình điều tra xác định vào ngày 11/11/2022 bị Công an Quận Hà Đông, Hà Nội xử phạt hành chính phạt tiền 3.500.000 đồng về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, cơ quan Điều tra đã khởi tố bị can, và ra lệnh bắt bị can, nhưng Lò Văn Toàn không có mặt tại địa phương, do thời hạn điều tra đã hết, nên cơ quan Điều tra tách vụ án để xử lý sau khi có đủ căn cứ nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Từ những phân tích, đánh giá nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy Bản luận tội và ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên và Quan điểm của người bào chữa tại phiên tòa cho bị cáo là có căn cứ pháp lý, phù hợp với mức độ nguy hại do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra cho xã hội, phù hợp với nhân thân nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH;
Căn cứ vào điểm a khoản 1, khoản 5 Điều 249; điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự; Điều 135, Điều 136, Điều 331, Điều 332 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1, Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án đối với bị cáo.
1. Tuyên bố bị cáo Vời Văn Ư, phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Vời Văn Ư 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo tạm giữ, tạm giam là ngày 05/8/2024
2. Về án phí hình sự sơ thẩm: Miễn 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Vời Văn Ư.
3. Về quyền kháng cáo: bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Toà án nhân dân tỉnh Lai Châu; - VKSND tỉnh Lai Châu; - Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu; - Công an huyện Sìn Hồ; - VKSND huyện Sìn Hồ; - Thi hành án hình sự CA huyện Sìn Hồ; - Thi hành án dân sự huyện Sìn Hồ; - Bị cáo; Người bào chữa; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOA Phan Hồng Ngoãn |