- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lý A X - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo: Lý A X phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG TÈ TỈNH LAI CHÂU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 25/2024/HSST Ngày: 26/12/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG TÈ, TỈNH LAI CHÂU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa, ông: Lò Xuân Hải.
Các hội thẩm nhân dân:
Ông: Lý Ngọc Sáng.
Bà: Vàng Thị Thu.
- Thư ký phiên tòa, bà: Dương Thùy Linh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Tè tham gia phiên tòa, ông: Vũ Đức Hoàng - Kiểm sát viên.
Trong ngày 26 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh L, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 29/2024/TL-ST-HS, ngày 29 tháng 11 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 24/2024/QĐXXST-HS, ngày 12 tháng 12 năm 2024, đối với bị cáo.
- Lý A X: Giới tính: Nam; tên gọi khác: Không; sinh ngày 01/01/1982; tại: Huyện T, tỉnh L; nơi thường trú: Bản C, xã B, huyện T, tỉnh L; nơi ở hiện tại: Bản C, xã B, huyện T, tỉnh L; quốc tịch: Việt Nam; số CMND/Thẻ CCCD/Hộ chiếu: 012082001449; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ học vấn: 0/12; dân tộc: La Hủ; tôn giáo: Không; đảng, đoàn: Không; con ông Lý Xà K (đã chết) và con bà Phản Gió B (đã chết); vợ Vàng Và B, sinh năm 1982 (chung sống như vợ chồng); con: Có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2000, con nhỏ nhất sinh năm 2004; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân chưa bị xử lý; bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/06/2024 cho đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện T, tỉnh L - Có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo Lý A X, ông: Trần Văn Hùng, là Luật sư ký hợp đồng thực hiện trợ giúp pháp lý với Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh L
- Có mặt.
- Người làm chứng,anh: Vàng Go C - Sinh năm 2000 - Trú tại: Bản H, xã B, huyện T, tỉnh L - Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào Khoảng 06 giờ sáng, ngày 28/06/2024, Lý A X đi bộ từ nhà ở bản C, xã B ra bản Bản H, xã B, huyện T, tỉnh L, để thăm con trai, khi đi qua ngã ba rẽ vào trung tâm xã B khoảng 03km, X gặp một người đàn ông không rõ nhân thân, địa chỉ đang đứng bên đường. Qua trao đổi, X đã mua được của người đàn ông này, 01 gói nilon màu trắng, bên trong có 06 gói Heroine đều được gói bằng mảnh nilon màu trắng với giá 200.000 đồng để sử dụng cho bản thân, sau đó X cho gói Heroine vào 01 hộp nhựa màu trắng cùng với 03 bơm kim tiêm và 01 dao lam, rồi cho hộp nhựa vào túi quần bên phải đang mặc trên người, rồi tiếp tục đi bộ theo đường Quốc lộ 4H đến bản H. Khi X đi đến bản N, xã B thì gặp Vàng Go C điều khiển xe máy đi cùng chiều, thấy vậy X gọi C dừng lại để xin đi nhờ và được C đồng ý. Hồi 10 giờ cùng ngày khi C chở X đến Km 277+300, Quốc lộ 4H thuộc địa phận bản H, xã B, huyện T, tỉnh L, thì bị tổ công tác đội cảnh sát giao thông Công an huyện T đang làm nhiệm vụ phát hiện, bắt quả tang cùng với 06 gói Heroine mà X đang cất giấu trong túi quần. Tổ công tác lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ, niêm phong vật chứng theo quy định của pháp luật.
Tại kết luận giám định số: 91/KLGĐ-CA, ngày 28/06/2024 của người giám định tư pháp theo vụ việc Công an huyện T, kết luận: 06 (sáu) mẫu chất bột khô, màu trắng thu giữ của Lý A X có tổng khối lượng là 0,67 gam.
Tại bản kết luận giám định số: 889/GĐ-KTHS ngày 02/07/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh L, kết luận: 06 (sáu) mẫu chất bột khô, màu trắng (ký hiệu từ mẫu 01 đến mẫu 06) thu giữ của Lý A X, gửi đến giám định là ma túy, loại Heroine. Có tên khoa học là Diacet1morphine được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số: 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất.
Tại bản cáo trạng số: 125/CT-VKS-MT ngày 28 tháng 11 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện T đã truy tố Lý A X về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa hôm nay vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử xử lý:
- Trách nhiệm hình sự: Đối với Lý A X về tội danh "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
- Về hình phạt chính: Áp dụng Điều 38; Điều 50; điểm c, khoản 1 Điều 249; điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Lý A X từ: 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù, về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
- Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo, do điều kiện kinh tế của bị cáo.
- Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy: 07 (bảy) mảnh nilon màu trắng; 01(một) phong bì do Công an huyện T phát hành đã bị cắt một đầu; 03 (ba) bơm kim tiêm; 01 (một) dao lam; 01 (một) hộp nhựa hình chữ nhật màu trắng.
+. Đối với 0,67 gam Heroine đã giử đi giám định, không hoàn lại mẫu vật, nên không đề cập xử lý.
- Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự. điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về án phí, lệ phí tòa án. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lý A X.
Tại phiên tòa hôm nay, sau khi phân tích tính chất, hành vi, mức độ phạm tội, nhân thân của bị cáo, người bào chữa đồng ý với nội dung cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện T. Về tội danh "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự, Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự; không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự; miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật; xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bị cáo không có ý kiến gì bổ sung, đồng ý với lời bào chữa của người bào chữa.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa việc bị cáo khai báo là hoàn toàn tự nguyện, không bị mớm cung, ép cung, bị cáo không khiếu nại gì về quyết định, hành vi của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Sau khi tranh luận Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên mức hình phạt chính như đã đề nghị. Lời nói sau cùng bị cáo rất ân hận về hành vi phạm tội của mình, mong Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã được cơ quan tiến hành tố tụng thu thập có trong hồ sơ vụ án như vậy có đủ cơ sở để kết luận: Hồi 10 giờ ngày 28/06/2024, tại Km 277+300, Quốc lộ 4H thuộc địa phận bản H, xã B, huyện T, tỉnh L, Lý A X đang tàng trữ trái phép 06 gói Heroine có tổng khối lượng 0,67 gam, mục đích để sử dụng cho bản thân. Thì bị tổ công tác đội cảnh sát giao thông Công an huyện T, tỉnh L, phát hiện bắt quả tang và thu giữ, niêm phong vật chứng theo quy định của pháp luật. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy", vì vậy Viện kiểm sát nhân dân huyện T đã truy tố bị cáo về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm c, khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là hoàn toàn đúng người, đúng tội. Bị cáo không khiếu nại gì đối với các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng. Do vậy hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đều hợp pháp, đúng pháp luật.
. Hành vi của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm vào chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước đối với chất ma túy, gây mất trật tự an toàn xã hội tại địa phương, bị cáo hiểu được điều đó nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Do vậy Hội đồng xét xử xét thấy cần phải áp dụng một mức hình phạt nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo gây ra nhằm cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người lương thiện, có ích cho xã hội và gia đình. Khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử cần xem xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để quyết định hình phạt đối với bị cáo.
. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xét thấy: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo Lý A X luôn thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” quy định tại điểm s, khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, cần được xem xét áp dụng cho bị cáo. Nhận thấy: Bị cáo là người dân tộc thiểu số La Hủ, nhận thức pháp luật còn hạn chế, gia đình là hộ nghèo sinh sống ở bản C, xã B, thuộc huyện T, tỉnh L, là huyện biên giới có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự khác theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự cần được xem xét áp dụng cho bị cáo.
. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Lý A X không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.
. Về nhân thân: Bị cáo Lý A X có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, từ nhỏ không được đi học, lớn lên ở nhà tham gia lao động sản xuất tại địa phương, nhận thức pháp luật hạn chế, là người sử dụng chất ma túy. Ngày 25/05/2012 đã bị Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh L, xử phạt 30 tháng tù giam về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” đến ngày 14/08/2014 đã chấp hành xong hình phạt tù, tính đến thời điểm phạm tội lần này đã được xóa án tích. Bị cáo nhận thức rõ được hành vi tàng trữ chất ma túy của mình là vi phạm pháp luật, nhưng vì mục đích thỏa mãn nhu cầu sử dụng chất ma túy của bản thân nên đã cố ý phạm tội.
. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 triệu đồng, xét thấy: Bị cáo là người dân tộc thiểu số La Hủ, nghề nghiệp trồng trọt, gia đình là hộ nghèo sinh sống ở bản C, xã B, thuộc huyện T, tỉnh L là huyện biên giới có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn. Do vậy Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự.
. Về xử lý vật chứng của vụ án: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu, tiêu hủy toàn bộ số vật chứng thu giữ còn lại của bị cáo Lý A X, bao gồm:
- 07 (bảy) mảnh nilon màu trắng; 01(một) phong bì do Công an huyện T phát hành đã bị cắt một đầu; 03 (ba) bơm kim tiêm; 01 (một) dao lam; 01 (một) hộp nhựa hình chữ nhật màu trắng;
- Đối với 0,67 gam Heroine đã giử đi giám định, không hoàn lại mẫu vật, nên không đề cập xử lý. Do vậy Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
. Về án phí hình sự sơ thẩm, xét thấy: Bị cáo là người dân tộc thiểu số La Hủ, nghề nghiệp trồng trọt, gia đình là hộ nghèo sinh sống ở bản C, xã B, thuộc huyện T, tỉnh L là huyện biên giới có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn. Áp dụng Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Hội đồng xét xử miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật cho bị cáo. [9]. Từ những phân tích như trên, Hội đồng xét xử có cơ sở khách quan và căn cứ pháp lý để kết luận: Bị cáo Lý A X đã phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Do vậy ý kiến của Kiểm sát viên và của người bào chữa cho bị cáo tại phiên tòa về: Tội danh, điều luật áp dụng, hình phạt, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự theo điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 52 của Bộ luật hình sự; xử lý vật chứng; không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự; miễn án phí hình sự sơ thẩm đối với bị cáo là có cơ sở đúng quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử chấp nhận. [10]. Đối với người đàn ông lạ mặt đã bán Heroine với giá 200.000 đồng cho bị cáo Lý A X. Trong qúa trình điều tra không xác định được lai lịch của người đàn ông này nên không đủ căn cứ để xử lý. Do vậy Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. [11]. Đối với Vàng Go C. Là người cho bị cáo Lý A X đi nhờ xe. Do C không biết X tàng trữ trái phép chất ma túy, nên không phạm tội. Viện kiểm sát nhân dân huyện T, không truy tố. Do vậy Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH
- Tuyên bố bị cáo: Lý A X phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
- Căn cứ vào Điều 38; Điều 50; điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm c, khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Lý A X: 01 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo Lý A X bị tạm giữ, tạm giam là ngày 28/06/2024.
- Về hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự: Không áp dụng đối với bị cáo Lý A X.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy toàn bộ vật chứng thu giữ còn lại của bị cáo Lý A X, bao gồm:
+. 07 (bảy) mảnh nilon màu trắng; 01(một) phong bì do Công an huyện T phát hành đã bị cắt một đầu; 03 (ba) bơm kim tiêm; 01 (một) dao lam; 01 (một) hộp nhựa hình chữ nhật màu trắng;
+. Đối với 0,67 gam Heroine đã giử đi giám định, không hoàn lại mẫu vật, nên không đề cập xử lý. Do vậy Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lý A X.
- Về quyền kháng cáo: Theo quy định tại Điều 331, 333. Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận - TAND tỉnh Lai Châu; - VKSND tỉnh Lai Châu; - VKSND huyện M.Tè; - Công an huyện M.Tè; - Cơ quan THAHS Công an huyện M.Tè; - Trại giam; Chi cục THADS huyện M.Tè; - Bị cáo; người bào chữa; - Lưu hồ sơ VA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Lò Xuân Hải |