vanban.org

Bản án 25/2024/HSST — Hình sự

TAND huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An Tuyên án 26/03/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Phan Đức T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Phan Đức T 06 (sáu) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 07/11/2023. Tịch thu tiêu hủy: mẫu vật được giám định là ma túy, loại Methamphetamine có khối lượng: 0,2701 gam, vỏ bao đựng mẫu được đóng gói niêm phong số 1175 và 01 (một) bóp da mini màu đỏ có chữ “Honda” và “Head Quang V Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phan Đức T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 299 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 326 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CẦN GIUỘC
TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 25/2024/HSST
Ngày: 26-3-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIUỘC – TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Bảo.

Các hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Thanh An.

Ông Đặng Văn Vững.

- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Thanh Xuân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giuộc: Ông Nguyễn Tùng Lâm - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 3 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 20/2024/TLST - HS ngày 23 tháng 02 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 19/2024/QĐXXST-HS, ngày 23 tháng 02 năm 2024 và Thông báo về việc mở phiên tòa số 01/2024/TB-TA, ngày 01 tháng 3 năm 2024, đối với bị cáo:

Họ và tên: Phan Đức T, sinh ngày 12/7/1969.

Nơi thường trú: L14 cư xá V, B, Phường F, Quận D, Tp .Nơi ở hiện tại: 3 D, Phường A, Quận H, Tp . Nghề nghiệp: làm thuê; Trình độ học vấn: 06/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: Thiên chúa; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phan Văn C(đã chết) và bà Trần Thị T1; Bản thân có vợ tên Phạm Thị Thu H, có 02 con, lớn sinh năm 1993, nhỏ sinh năm 2003; Tiền sự: không; Tiền án: (có 04 tiền án), Bản án số: 459/2008/HSST, ngày 13/6/2008 của Tòa án nhân dân Tp. Hồ Chí Minh xử phạt 07 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, chưa được xóa án tích; Bản án số: 13/2014/HSST, ngày 10/01/2014 của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Tp . xử phạt 10 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; Bản án số: 23/2014/HSST ngày 24/04/2014 của Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè, Tp . xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Tổng hợp hình phạt với bản án số: 13/2014/HSST ngày 10/01/2014 của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Tp .buộc bị cáo phải chấp hành chung hình phạt của 02 bản án là 12 năm tù; Bản án số: 110/2014/HSST ngày 26/6/2014 của Tòa án nhân dân Quận 7, Tp . xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Tổng hợp hình phạt với bản án số: 23/2014/HSST ngày 24/04/2014 của Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè, Tp Hồ Chí Minh, buộc bị cáo phải chấp hành chung hình phạt của 02 bản án là 13 năm 06 tháng tù. Chấp hành xong hình phạt ngày 01/9/2021, chưa được xóa án tích; Nhân thân: Ngày 08/3/1985 bị Ủy ban nhân dân Quận A .cưỡng bức lao động thời hạn 24 tháng về hành vi “Trộm cắp tài sản của công dân”; Ngày 03/12/1986, bị Công an quận P bắt về hành vi “Trộm cắp tài sản của công dân”; Ngày 08/6/1988 bị Ủy ban nhân dân Quận A, Tp .cưỡng bức lao động thời hạn 02 năm về hành vi “Cướp giật hoặc công nhiên chiếm đoạt tài sản của công dân”; Bản án số 265/HSST, ngày 04/4/1994 bị Tòa án nhân dân Tp. Hồ Chí Minh xử phạt 18 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản của công dân”. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/11/2023 đến nay, có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Phan Đức L năm: 1993 (vắng mặt).

Cư trú: 3 D, Phường A, Quận H, Tp .

Người chứng kiến:

1/ Mai Trung T2sinh năm: 2001 (vắng mặt).

Cư trú: khu phố L, thị trấn C, huyện C, tỉnh Long An

2/ Lê Thanh T3sinh năm: 1963 (vắng mặt).

Cư trú: khu phố P, thị trấn C, huyện C, tỉnh Long An

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và qua quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 17 giờ 25 phút, ngày 07/11/2023, Công an thị trấn C, tỉnh Long Antuần tra trên tuyến đường T thuộc Khu phố C, thị trấn C phát hiện Phan Đức T2 bỏ chạy có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra hành chính thì phát hiện trên người Tcó 01 (một) bóp da mini màu đỏ có chữ “Honda” và “Head Quang V đang đeo trên đai lưng quần Jean, màu đen phía bên trái có 01 (một) gói nylon có rãnh khép viền xanh, chứa tinh thể rắn màu trắng nghi là ma túy nên Công an thị trấn Ctiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và phối hợp với Cơ quan CSĐT Công an huyện Ctạm giữ tang vật, niêm phong các chất nghi là ma túy và gửi đi giám định.

Quá trình điều tra, Phan Đức T3 nhận: Do có nhu cầu sử dụng ma túy nên vào khoảng 11 giờ 00 phút, ngày 07/11/2023, T4 khiển xe mô tô, biển số 59P2-747.51 từ Quận H, Tp H Công viên 23 tháng 9 thuộc đường P, phường P, Quận A, Tp .gặp nam thanh niên tên H1 (không rõ họ tên, địa chỉ) hỏi mua 01 (một) gói ma túy đá với giá 200.000 đồng, người này đồng ý và bán cho T01 (một) gói nylon màu trắng có rãnh khép viền xanh, bên trong có chứa chất tinh thể rắn màu trắng là ma túy đá. Sau đó, T5 nhà vệ sinh công cộng lấy một phần ma túy đá ra sử dụng, phần ma túy còn lại cất giấu trong bóp da mini màu đỏ đang đeo trên đai lưng quần Jean, màu đen bên trái để dành sử dụng. Đến khoảng 17 giờ 25 phút cùng ngày, T4 khiển xe mô tô xuống địa bàn huyện C đến đoạn đường T thuộc Khu phố C, thị trấn C bị 02 (hai) nam thanh niên (không rõ họ tên, địa chỉ) chặn đường đánh. Lúc này, T6 xe mô tô lại rồi bỏ chạy thì Công an thị trấn Ctiến hành kiểm tra hành chính phát hiện số ma túy trên.

Tại Kết luận giám định số: 1175/KL-KTHS ngày 15/11/2023 của Phòng KCông an tỉnh Lkết luận: Tinh thể màu trắng đựng trong 01 (một) túi nylon có rãnh khép viền xanh được đóng gói niêm phong gửi đi giám định là ma túy, có khối lượng: 0,4566 gam, loại: Methamphetamine.

Tại bản cáo trạng số 25/CT-VKSCG ngày 22/02/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giuộc truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Phan Đức T 06 năm đến 07 năm tù.

Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Vật chứng: đề nghị áp dụng khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự và khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự.

Tịch thu tiêu hủy: mẫu vật được giám định là ma túy, loại Methamphetamine có khối lượng: 0,2701 gam và vỏ bao đựng mẫu được đóng gói niêm phong số 1175 và 01 (một) bóp da mini màu đỏ.

Đối với 01 (một) xe môtô, biển số: 59P2-747.51 là tài sản hợp pháp của anh Phan Đức L1 Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại cho anh L.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận.

Bị cáo nói lời sau cùng nhìn nhận hành vi phạm tội và xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi tố tụng của Cơ quan điều tra C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện C, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục, quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Phan Đức T7 đối tượng nghiện ma tuý, nên vào khoảng 11 giờ 00 phút ngày 07/11/2023, T4 khiển xe mô tô đến Công viên 23 tháng 9, thuộc phường P, Quận A, Tp .gặp nam thanh niên tên H1 (không rõ nhân thân) mua 01 (một) gói ma túy với giá 200.000 đồng. Sau đó, T5 nhà vệ sinh công cộng lấy ra một phần ma túy để sử dụng, phần ma túy còn lại cất giấu trong bóp da mini màu đỏ đang đeo trên đai lưng quần Jean để dành sử dụng. Đến khoảng 17 giờ 25 phút, cùng ngày, khi đi đến đoạn đường T thuộc Khu phố C, thị trấn C bị C tiến hành kiểm tra hành chính phát hiện số ma túy trên. Theo Kết luận giám định số: 1175/KL-KTHS ngày 15/11/2023 của Phòng KCông an tỉnh Lkết luận: Tinh thể màu trắng đựng trong 01 (một) túi nylon có rãnh khép viền xanh gửi đi giám định là ma túy, có khối lượng: 0,4566 gam, loại: Methamphetamine. Ma túy bị cáo tàng trữ là loại Methamphetamine có khối lượng trên 0,1 gam đến dưới 05 gam, nên hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tội phạm được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Xét thấy bị cáo có 04 tiền án, cụ thể: Bản án số: 459/2008/HSST, ngày 13/6/2008 của Tòa án nhân dân Tp. Hồ Chí Minh xử phạt 07 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; Bản án số: 13/2014/HSST, ngày 10/01/2014 của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Tp . xử phạt 10 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; Bản án số: 23/2014/HSST ngày 24/04/2014 của Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè, Tp . xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”; Bản án số: 110/2014/HSST ngày 26/6/2014 của Tòa án nhân dân Quận 7, Tp . xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Tổng hợp hình phạt với bản án số: 23/2014/HSST ngày 24/04/2014 của Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè, Tp Hồ Chí Minh, buộc bị cáo phải chấp hành chung hình phạt của 02 bản án là 13 năm 06 tháng tù. Chấp hành xong hình phạt ngày 01/9/2021, chưa được xóa án tích. Ngày 07/11/2023 bị cáo lại phạm tội với lỗi cố ý, nên lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp “Tái phạm nguy hiểm” theo quy định tai khoản 2 Điều 53 Bộ luật hình sự và thuộc trường hợp định khung hình phạt tăng nặng theo quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Hành vi trái pháp luật của bị cáo là nguy hiểm, bị cáo thừa biết ma tuý là chất độc hại, gây nghiện làm tổn hại nghiêm trọng đến sức khỏe, tinh thần và thể chất con người nên Nhà nước thống nhất quản lý và nghiêm cấm các hành vi như sản xuất, mua bán, tàng trữ, vận chuyển trái phép chất ma tuý, nhưng bị cáo vẫn bất chấp thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi của bị cáo được thực hiện do lỗi cố ý trực tiếp, đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma tuý, ngoài ra việc sử dụng ma túy là một trong các tác nhân gây ra các tệ nạn xã hội, gây mất trật tự an toàn xã hội. Do đó, cần thiết xử lý bị cáo bằng một hình phạt thoả đáng mới có thể giáo dục và phòng ngừa chung.

Xét về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự: không.

Xét về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: bị cáo phạm tội nhưng thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xét về nhân thân, bị cáo có nhân thân xấu: ngày 08/3/1985 bị Ủy ban nhân dân Quận A .cưỡng bức lao động thời hạn 24 tháng về hành vi “Trộm cắp tài sản của công dân”; Ngày 03/12/1986, bị Công an Quận P bắt về hành vi “Trộm cắp tài sản của công dân”; Ngày 08/6/1988 bị Ủy ban nhân dân Quận A .cưỡng bức lao động thời hạn 02 năm về hành vi “Cướp giật hoặc công nhiên chiếm đoạt tài sản của công dân”; Bản án số 265/HSST, ngày 04/4/1994 bị Tòa án nhân dân Tp. Hồ Chí Minh xử phạt 18 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản của công dân”. Do đó cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có thể giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người có ích cho xã hội. Xét thấy áp dụng hình phạt tù cũng đủ răn đe, nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Đối với nam thanh niên tên H1(không rõ nhân thân) theo bị cáo khai là người bán ma túy cho bị cáo, qua điều tra chưa xác minh được họ tên và địa chỉ cụ thể và việc mua bán ma túy xảy ra trên địa bàn Quận A, Tp ., nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Ccó Công văn số 45/TB.CSĐT, ngày 02/02/2024 chuyển Công an Q điều tra, làm rõ xử lý theo thẩm quyền.

Về tang vật thu giữ: căn cứ khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự và khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, để xử lý như sau: đối với mẫu vật được giám định là ma túy, loại Methamphetamine có khối lượng: 0,2701 gam và vỏ bao đựng mẫu được đóng gói niêm phong số 1175, nên tịch thu tiêu hủy. Đối với 01 (một) bóp da mini màu đỏ có chữ “Honda” và “Head Quang Vinh” của bị cáo sử dụng cất giấu ma túy, xét thấy giá trị sử dụng không lớn, nên tịch thu tiêu hủy. Đối với 01 (một) xe môtô, biển số: 59P2-747.51 là tài sản hợp pháp của anh Phan Đức L3(con bị cáo) cho bị cáo T8 sử dụng làm phương tiện đi lại, việc bị cáo Tsử dụng xe mô tô đi mua ma túy anh L4 biết, nên Cơ quan cảnh sát điều tra C đã trả lại cho anh L5 phù hợp.

Về án phí: bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Phan Đức T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Căn cứ điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Phan Đức T 06 (sáu) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 07/11/2023.

Căn cứ Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự. Tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án (26/3/2024) để đảm bảo việc kháng cáo, kháng nghị và thi hành án.

Căn cứ khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự và khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự. Về tang vật:

Tịch thu tiêu hủy: mẫu vật được giám định là ma túy, loại Methamphetamine có khối lượng: 0,2701 gam, vỏ bao đựng mẫu được đóng gói niêm phong số 1175 và 01 (một) bóp da mini màu đỏ có chữ “Honda” và “Head Quang V

Hiện vật chứng Chi cục thi hành án dân sự huyện Cần Giuộc đang tạm giữ theo Quyết định chuyển vật chứng số 19/QĐ-VKSCG, ngày 22 tháng 02 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giuộc.

Về án phí: bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử sơ thẩm công khai báo cho bị cáo có mặt biết được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ