- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Tuấn A, Đặng Khắc S - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tuấn A phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 17 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ N TỈNH NAM ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 25/2024/HS-ST Ngày: 05-02-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ N - TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Đức Nguyên.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Vương Thị Minh Tân và bà Nguyễn Thị Kim Chung.
- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Soan - Thư ký Toà án nhân dân thành phố N.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố N tham gia phiên tòa: Ông Phạm Bá Hiệp - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 02 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố N, tỉnh Nam Định. Tòa án nhân dân thành phố N, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 19-2024/TLST-HS ngày 23-01-2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 19/2024/QĐXXST-HS ngày 24-01-2024 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Nguyễn Tuấn A - Sinh năm 1983; nơi thường trú, chỗ ở hiện nay: 13/21 đường T, phường T, thành phố N, tỉnh Nam Định; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Tự do; trình độ học vấn: 8/12; con ông: Nguyễn Văn H, con bà: Trần Thị H; vợ: Nguyễn Thị Đ, có 02 con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 20-4-2005, Toà án nhân dân thị xã Phủ Lý, tỉnh Hà Nam xử phạt 09 tháng tù giam về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”; ngày 08-6-2018, Toà án nhân dân thành phố N, tỉnh Nam Định xử phạt 21 tháng tù giam về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”; bị tạm giữ từ ngày 09 tháng 10 năm 2023, chuyển tạm giam ngày 18 tháng 10 năm 2023. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố N; có mặt tại phiên tòa.
2. Họ và tên: Đặng Khắc S - Sinh năm 1979; nơi thường trú: 32 đường N, phường N, thành phố N, tỉnh Nam Định; chỗ ở hiện nay: 2/11 đường H, phường N, thành phố N, tỉnh Nam Định; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Tự do; trình độ học vấn: 9/12; con ông: Đặng Khắc B (Đã chết), con bà: Đỗ Thị L; vợ, con: Không; tiền án: Bản án số 01/2014/HSST ngày 10-01-2014, Toà án nhân dân huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam xử phạt 18 tháng tù giam về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại khoản 1, khoản 5 Điều 139 Bộ luật Hình sự năm 1999. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 10-01-2015 (Chưa thi hành khoản nộp phạt bổ sung công quỹ Nhà nước, chưa được xoá án tích số tiền 10.000.000 đồng); nhân thân: Ngày 23-01-2006, Toà án nhân dân thành phố N, tỉnh Nam Định xử phạt 12 tháng tù giam về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” và “Đánh bạc”; ngày 08-11-2011, Toà án nhân dân thành phố N, tỉnh Nam Định xử phạt 12 tháng tù giam về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”; ngày 27-11-2015, Toà án nhân dân thành phố N, tỉnh Nam Định xử phạt 12 tháng tù giam về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”; bị tạm giữ từ ngày 09 tháng 10 năm 2023, chuyển tạm giam ngày 18 tháng 10 năm 2023. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố N; có mặt tại phiên toà.
Người làm chứng: Anh Trần Văn Đ và ông Trần Văn B (Không triệu tập tham gia phiên toà).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 12 giờ ngày 09-10-2023, Tổ công tác Công an phường N, thành phố N làm nhiệm vụ tại khu vực ngã ba đường L, lối rẽ vào gầm cầu Đ thuộc xã N, thành phố N phát hiện Nguyễn Tuấn A điều khiển xe máy biển kiểm soát L1-091.28 chở Đặng Khắc S có biểu hiện nghi vấn nên đã tiến hành kiểm tra, S thả từ tay trái xuống đất 01 túi ni lông màu trắng kích thước khoảng (2,5 x 3) cm, bên trong chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng (Tuấn A và S đều khai là ma tuý tổng hợp dạng “Đá” cùng mua về để sử dụng). Tổ công tác đã thu giữ, niêm phong vật chứng và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Nguyễn Tuấn A và Đặng Khắc S. Ngoài ra, tạm giữ của Nguyễn Tuấn A 01 chiếc xe máy biển kiểm soát L1-091.28 và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone; tạm giữ của Đặng Khắc S 01 chiếc điện thoại đi động nhãn hiệu Samsung đều đã cũ.
Bản Kết luận giám định số 1517/KLKTHS ngày 16-10-2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định kết luận: mẫu chất rắn dạng tinh thể màu trắng trong 01 túi ni lông màu trắng kích thước khoảng (2,5 x 3) cm, trong phong bì thư được niêm phong gửi giám định là ma túy. Loại ma túy: Methamphetamine. Khối lượng mẫu: 0,303 gam.
Tại Cơ quan Điều tra, Nguyễn Tuấn A, Đặng Khắc S khai nhận: Khoảng 11 giờ ngày 09-10-2023, Tuấn A dùng điện thoại di động Iphone của mình nhắn tin qua ứng dụng Zalo vào máy điện thoại di động Samsung của S rủ góp tiền mua ma tuý về để sử dụng. S đồng ý, Tuấn A điều khiển xe máy biển kiểm soát L1-091.28 đến chở S. Trên đường đi, S đưa cho Tuấn A 50.000 đồng, còn Tuấn A bỏ ra 150.000 đồng. Khi đi đến khu vực gầm cầu Đò Quan, thành phố N, Tuấn A dừng xe ở ngõ nhỏ (Cả hai đều không nhớ số ngõ), bảo S đứng chờ rồi cầm 200.000 đồng, đi bộ vào trong ngõ gặp một người đàn ông (Không rõ tên, tuổi, địa chỉ) mua 01 gói ma tuý đá với giá 200.000 đồng. Tuấn A cầm gói ma tuý ra xe cho S. S cầm gói ma tuý trong tay trái, Tuấn A điều khiển xe chở S đi tìm chỗ sử dụng thì bị phát hiện, bắt giữ.
Bản Cáo trạng số 24/CT-VKS-TPNĐ ngày 22-01-2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố N truy tố Nguyễn Tuấn A và Đặng Khắc S về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà: Bị cáo Nguyễn Tuấn A và bị cáo Đặng Khắc S xác nhận trong quá trình điều tra, truy tố không bị Cơ quan tiến hành tố tụng ép cung, bức cung hay dùng nhục hình. Các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố là đúng và khai nhận biết rõ hành vi cất giữ trái phép ma túy là vi phạm pháp luật, bị Nhà nước nghiêm cấm nhưng do nghiện ma túy nên đã tàng trữ với mục đích sử dụng cho bản thân. Các bị cáo không khai báo thêm tình tiết mới và ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố N luận tội và tranh luận: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo và thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Vì vậy, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo Nguyễn Tuấn A và Đặng Khắc S theo toàn bộ nội dung bản Cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Tuấn A và Đặng Khắc S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 (Đối với bị cáo Đặng Khắc S) Điều 17; Điều 58 của Bộ luật Hình sự:
+ Xử phạt bị cáo Nguyễn Tuấn A từ 24 (Hai mươi bốn) tháng đến 27 tháng (Hai mươi bẩy) tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
+ Xử phạt bị cáo Đặng Khắc S 27 (Hai mươi bẩy) tháng đến 30 tháng (Ba mươi) tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy số ma túy thu giữ của các bị cáo; tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone của bị cáo Nguyễn Tuấn A và 01 điện thoại đi động nhãn hiệu Samsung của bị cáo Đặng Khắc S.
Các bị cáo không có ý kiến tranh luận. Các bị cáo nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, Người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, Người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Tuấn A và bị cáo Đặng Khắc S có trong hồ sơ vụ án và quá trình tranh tụng tại phiên tòa các bị cáo đều thừa nhận hành vi phạm tội của mình, không có sự mâu thuẫn và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ như biên bản bắt người phạm tội quả tang; biên bản thu giữ vật chứng; lời khai của những người làm chứng; bản Kết luận giám định của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ nên đã có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 12 giờ ngày 09-10-2023, tại khu vực ngã ba đường L, lối rẽ vào gầm cầu Đ thuộc xã N, thành phố N, tỉnh Nam Định, Nguyễn Tuấn A và Đặng Khắc S đều có hành vi tàng trữ trái phép 0,303 gam Methamphetamine mục đích để cùng sử dụng chung thì bị phát hiện, bắt quả tang. Hành vi phạm tội của các bị cáo là nghiêm trọng, gây mất trật tự an ninh xã hội trên địa bàn thành phố N, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước. Các bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi tàng trữ ma túy của mình là vi phạm pháp luật, bị Nhà nước nghiêm cấm nhưng vẫn cố ý trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội. Như vậy, việc truy tố và đưa ra xét xử các bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội.
Các tình tiết Hội đồng xét xử sẽ xem xét khi Quyết định hình phạt đối với các bị cáo:
Về vai trò của các bị cáo trong việc thực hiện hành vi phạm tội: Các bị cáo là đồng phạm cùng thực hiện hành vi phạm tội, mục đích mua ma tuý để sử dụng chung. Bị cáo Nguyễn Tuấn A là người khởi xướng, rủ rê, lôi kéo, chung tiền mua ma túy, điều khiển xe máy đón bị cáo Đặng Khắc S đi mua ma túy và trao đổi với người bán ma tuý; bị cáo Đặng Khắc S góp tiền mua ma tuý, giúp sức cho bị cáo Nguyễn Tuấn A nên xếp vai trò của bị cáo Nguyễn Tuấn A cao hơn vai trò của bị cáo Đặng Khắc S.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan Điều tra và tại phiên toà, các bị cáo Nguyễn Tuấn A và Đặng Khắc S được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Người phạm tội thành khẩn khai báo” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Tuấn A không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nhưng là đối tượng có nhân thân xấu. Bị cáo Đặng Khắc S đã nhiều lần bị Toà án đưa ra xét xử và có 01 tiền án về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” chưa được xoá án tích, nay lại thực hiện hành vi phạm tội do lỗi cố ý nên lần phạm tội này thuộc trường hợp “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.
Về hình phạt: Trên cơ sở xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo, đối chiếu với các quy định của Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy: Các bị cáo đều có nhân thân xấu, đã nhiều lần bị kết án nhưng không lấy đó làm bài học. Bị cáo Nguyễn Tuấn A có vai trò cao hơn bị cáo Đặng Khắc S nhưng bị cáo Đặng Khắc S có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “Tái phạm” nên trách nhiệm hình sự của hai bị cáo tương xứng với nhau. Do vậy, cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn trong khung đã truy tố với mức án nghiêm khắc để cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm răn đe, giáo dục các bị cáo và góp phần phòng ngừa tội phạm nói chung.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy các bị cáo tàng trữ ma túy với mục đích để sử dụng nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng:
- Số ma túy trong phong bì niêm phong 1517/KLKTHS ngày 16-10-2023 là vật Nhà nước cấm tàng trữ nên tịch thu tiêu hủy.
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone của Nguyễn Tuấn A và 01 điện thoại đi động nhãn hiệu Samsung của Đặng Khắc S, các bị cáo đã dùng để liên lạc rủ nhau đi mua ma tuý nên cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước.
Đối với đối tượng bán ma túy cho Nguyễn Tuấn A và Đặng Khắc S, tài liệu điều tra chưa đủ căn cứ kết luận nên Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố N tách ra để tiếp tục điều tra, xử lý sau là đúng quy định của pháp luật.
Chiếc xe máy biển kiểm soát L1-091.28 là tài sản của chị Nguyễn Thị Định (Vợ của Nguyễn Tuấn A), chị Định không biết Nguyễn Tuấn A mượn xe đi mua ma tuý để sử dụng nên Cơ quan Điều tra đã trả lại xe cho chị Định là đúng quy định của pháp luật.
Về án phí: Bị cáo Nguyễn Tuấn A và bị cáo Đặng Khắc S bị kết án nên phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 (Đối với bị cáo Đặng Khắc S), Điều 38, Điều 17, Điều 58, Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tuấn A phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Tuấn A 02 (Hai) năm 03 (Ba) tháng tù. Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 09 tháng 10 năm 2023.
2. Tuyên bố bị cáo Đặng Khắc S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Đặng Khắc S 02 (Hai) năm 03 (Ba) tháng tù. Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày ngày 09 tháng 10 năm 2023.
3. Xử lý vật chứng:
- Tịch thu tiêu hủy số ma túy trong phong bì niêm phong 1517/KLKTHS ngày 16-10-2023;
- Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone của bị cáo Nguyễn Tuấn A và 01 điện thoại đi động nhãn hiệu Samsung của bị cáo Đặng Khắc S (Vật chứng có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 26-01-2024 giữa Công an thành phố N và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố N).
4. Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn Tuấn A và bị cáo Đặng Khắc S, mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).
5. Quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Tuấn A và bị cáo Đặng Khắc S được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trong trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người phải thi hành án có quyền tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Toà án ND.Tỉnh Nam Định; - Viện kiểm sát NDTP.N (02 bản); - Công an TP.N; - Chi cục Thi hành án dân sự TP.N; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Đức Nguyên |