vanban.org

Bản án 25/2024/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Tây Hồ, TP. Hà Nội Tuyên án 05/02/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh và hình phạt: Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015.

Xử phạt: Bị cáo Trần Duy T 18 (mười tám) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 27/10/2023. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47, khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Duy T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt: Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015.
  • Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
QUẬN TÂY HỒ
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 25/2024/HS-ST
Ngày: 05 -02-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂY HỒ - THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Giang

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phạm Thị Hiền

Ông Trần Xuân Thưởng

- Thư ký phiên toà: Bà Mạc An Chi- Thư ký Toà án nhân dân quận Tây

Hồ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tây Hồ tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Chung - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 02 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 05/2024/TLST-HS ngày 24 tháng 01 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 18/2023/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 01 năm 2024 đối với bị cáo:

Trần Duy T, sinh năm 1995, tại Khánh Hòa; ĐKTT: Số X đường LL, phường XH, thành phố NT, tỉnh KH; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 9/12; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Phật giáo; Con ông Trần Minh D (đã chết) và bà Nguyễn Thị Lệ L; Tiền án, tiền sự: Theo danh chỉ bản số 499 do Công an quận Tây Hồ lập ngày 01/11/2023 và lý lịch do địa phương cung cấp, bị cáo không có tiền án, tiền sự; Nhân thân không có tiền án, tiền sự;

Bị cáo bị bắt từ ngày 27/10/2023, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 – Công an thành phố Hà Nội (có mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 23/10/2023, Trần Duy T kết bạn Zalo với một người phụ nữ sử dụng tài khoản Zalo tên “Hồng Mây”. Cả hai nhắn T qua lại, T và “Hồng Mây” cùng rủ nhau đến khu vực phố An Dương, phường Yên Phụ, quận Tây Hồ vào tối ngày 26/10/2023 để sử dụng ma tuý. Khoảng 17 giờ 00 phút ngày 26/10/2023, T xuống khu vực cổng tòa nhà S126 Vinhomes Ocean Park, xã Đa Tốn, huyện Gia Lâm, Hà Nội để tìm mua ma tuý. Tại đây, T gặp và mua được của một người đàn ông không quen biết ma tuý loại Ketamine và 02 viên ma tuý “thuốc lắc” với giá 2.000.000 (hai triệu) đồng. Sau khi mua được ma tuý, T cất vào trong túi quần bên phải, phía sau đang mặc, rồi nhắn T qua ứng dụng Zalo cho “Hồng Mây” báo đã mua được ma tuý. “Hồng Mây” hẹn T đến địa chỉ số 8 đường An Dương, Yên Phụ, Tây Hồ, Hà Nội gọi “Hồng Mây”, “Hồng Mây” sẽ ra đón rồi cùng nhau tìm nơi sử dụng ma tuý, T đồng ý. Khoảng 20 giờ 40 phút cùng ngày, khi T đi đến trước cửa nhà số 18 đường An Dương, phường Yên Phụ, quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội thì bị Tổ công tác Công an phường Yên Phụ kiểm tra hành chính. Quá trình kiểm tra, T tự tay lấy trong túi quần bên phải, phía sau đang mặc ra (01) một túi nilong chứa tinh thể màu trắng và 01 (một) túi nilong chứa 02 (hai) viên nén màu trắng giao nộp cho Tổ công tác. T khai nhận tinh thể màu trắng là ma tuý Ketamine, 02 (hai) viên nén màu trắng là ma tuý “thuốc lắc”, T mang đến điểm hẹn với bạn để cùng nhau sử dụng. Tổ công tác đã lập biên bản và đưa T cùng tang vật về Trụ sở Công an phường Yên Phụ để tiếp tục xác minh, làm rõ.

Thu giữ của Trần Duy T gồm:

- 01 (một) túi nilong, bên trong chứa tinh thể màu trắng.

- 01 (một) túi nilong, bên trong chứa 02 viên nén màu trắng.

- 01 (một) túi đeo màu nâu.

- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE, màu đen, số IMEI: 357938438863094, đã qua sử dụng.

- 01 (một) ví màu xanh bên trong có:

+ 01 (một) căn cước công dân số xx mang tên Trần Duy T.

+ 01 (một) thẻ ngân hàng MB số xx mang số Serial DKW92H3.

+ 01 (một) thẻ ngân hàng MSB số xx mang tên Tran Duy T.

+ 01 (một) thẻ ngân hàng DONG A BANK số xx mang tên Tran Duy T.

+ 01 (một) thẻ ngân hàng TECHCOMBANK số xx mang tên Tran Duy T.

+ 01 (một) thẻ ngân hàng TECHCOMBANK số xx mang tên Tran Duy T.

+ 01 (một) thẻ ngân hàng TPBANK số xx mang tên Tran Duy T.

Tại bản Kết luận giám định số 7304/KL-KTHS ngày 03/11/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội kết luận:

“- Tinh thể màu trắng bên trong 01 túi nilong là ma tuý loại Ketamine, khối lượng: 0,435 gam.

- 02 viên nén màu trắng bên trong 01 túi nilong đều là ma tuý loại MDMA, tổng khối lượng: 0,730 gam.”

Kiểm tra điện thoại thu giữ của Trần Duy T: Tại ứng dụng Zalo, có nhiều T nhắn giữa T và “Hồng Mây” liên quan đến việc rủ nhau sử dụng ma tuý.

Đối với người đàn ông bán ma túy cho T: T không biết tên, tuổi, địa chỉ, số điện thoại. Người đàn ông có đặc điểm khoảng hơn 30 tuổi, dáng người gầy, cao khoảng 1m70, đeo khẩu trang, tay, chân có nhiều hình xăm. Cơ quan điều tra đã tiến hành dẫn giải T để xác định vị trí mua ma túy và đối tượng bán ma túy. Kết quả: Xác định được vị trí T mua ma túy ngày 26/10/2023 tại khu vực vỉa hè lối vào Toà nhà S216 Vinhomes Ocean Park, xã Đa Tốn, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội, nhưng không xác định được người đàn ông bán ma tuý cho T. Do đó, Cơ quan điều tra không có căn cứ làm rõ để xử lý.

Đối với người phụ nữ rủ T cùng sử dụng ma túy có tài khoản Zalo “Hồng Mây”: T khai quen “Hồng Mây” qua mạng xã hội Zalo. T không biết tên tuổi, địa chỉ, số điện thoại cụ thể. Cơ quan điều tra đã tiến hành rà soát đối tượng trên địa bàn nhưng không phát hiện được người phụ nữ sử dụng tài khoản Zalo “Hồng Mây”, nên không có căn cứ làm rõ để xử lý.

Bản Cáo trạng số 03/CT-VKSTH ngày 19 tháng 01 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội truy tố bị cáo Trần Duy T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa luận tội và tranh luận: Căn cứ các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, lời khai của bị cáo tại phiên tòa, có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự và giữ nguyên nội dung bản Cáo trạng. Sau khi phân tích các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 47 Bộ luật Hình sự; áp dụng Điều 106; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

-Về hình phạt: Đề nghị xử phạt bị cáo Trần Duy T từ 18 tháng tù đến 24 tháng tù.

-Về hình phạt bổ sung: Đề nghị không áp dụng.

-Về xử lý vật chứng: Đề nghị,

+ Tịch thu tiêu hủy 01 bao niêm phong được dán kín các mép, có chữ ký của các thành phần theo biên bản niêm phong ngày 27/10/2023 (bên trong bao niêm phong là khối lượng ma túy sau giám định) và dấu của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận Tây Hồ.

+ Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE, màu đen, số IMEI: 357938438863094, đã qua sử dụng.

+ Trả lại bị cáo 01 (một) túi đeo màu nâu; 01 (một) ví màu xanh; 01 (một) căn cước công dân số xx mang tên Trần Duy T; 01 (một) thẻ ngân hàng MB số xx mang số Serial DKW92H3; 01 (một) thẻ ngân hàng MSB số xx mang tên Tran Duy T; 01 (một) thẻ ngân hàng DONG A BANK số xx mang tên Tran Duy T; 01 (một) thẻ ngân hàng TECHCOMBANK số xx mang tên Tran Duy T; 01 (một) thẻ ngân hàng TECHCOMBANK số xx mang tên Tran Duy T; 01 (một) thẻ ngân hàng TPBANK số xx mang tên Tran Duy T.

-Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí và được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Bị cáo không tranh luận. Nói lời sau cùng: Bị cáo biết mình sai, vi phạm pháp luật và xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra - Công an quận Tây Hồ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Tây Hồ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tội danh: Xét lời khai của bị cáo Trần Duy T tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của người làm chứng, vật chứng thu giữ, Kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án và nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Vào hồi 20 giờ 40 phút ngày 26/10/2023, tại trước số nhà 18 đường An Dương, phường Yên Phụ, quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội, Trần Duy T đã có hành vi cất giấu trái phép trong người 0,730gam ma túy loại MDMA và 0,435 gam ma túy loại Ketamine, mục đích để sử dụng, thì bị Tổ công tác Công an phường Yên Phụ, quận Tây Hồ phát hiện, bắt quả tang cùng vật chứng.

Hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội đã đưa ra các chứng cứ buộc tội và truy tố bị cáo tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội: Tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi của bị cáo đã xâm hại đến chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự xã hội, làm gia tăng tệ nạn xã hội và các tội phạm khác, gây ảnh hưởng tới sự phát triển lành mạnh của con người, hủy hoại sức khỏe, giảm khả năng lao động, tăng nguy cơ lây nhiễm các căn bệnh HIV-AIDS.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; nhân thân chưa có tiền án tiền sự nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt: Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện, điều đó chứng bị cáo coi thường pháp luật. Căn cứ vào tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra, với khối lượng 0,730gam ma túy loại MDMA và 0,435 gam ma túy loại Ketamine, cần áp dụng một hình phạt tù nghiêm khắc trong khung hình phạt, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục, cải tạo, răn đe và phòng ngừa tội phạm.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có công việc và thu nhập nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

[8] Về xử lý vật chứng:

- Tịch thu tiêu hủy 01 bao niêm phong được dán kín các mép, có chữ ký của các thành phần theo biên bản niêm phong ngày 27/10/2023 (bên trong bao niêm phong là khối lượng ma túy sau giám định) và dấu của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận Tây Hồ.

- Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE, màu đen, số IMEI: 357938438863094, đã qua sử dụng.

- Trả lại bị cáo 01 (một) túi đeo màu nâu; 01 (một) ví màu xanh; 01 (một) căn cước công dân số xx mang tên Trần Duy T; 01 (một) thẻ ngân hàng MB số xx mang số Serial DKW92H3; 01 (một) thẻ ngân hàng MSB số xx mang tên Tran Duy T; 01 (một) thẻ ngân hàng DONG A BANK số xx mang tên Tran Duy T; 01 (một) thẻ ngân hàng TECHCOMBANK số xx mang tên Tran Duy T; 01 (một) thẻ ngân hàng TECHCOMBANK số xx mang tên Tran Duy T; 01 (một) thẻ ngân hàng TPBANK số xx mang tên Tran Duy T.

Về án phí: Bị cáo phải nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Đối với đối tượng bán ma túy cho T và người phụ nữ rủ T cùng sử dụng ma túy có tài khoản Zalo tên “ Hồng Mây”: T không biết tên, tuổi, địa chỉ, số điện thoại. Cơ quan điều tra đã xác minh nhưng không có căn cứ làm rõ để xử lý nên Hội đồng xét xử không giải quyết.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1.Về tội danh và hình phạt: Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015.

Xử phạt: Bị cáo Trần Duy T 18 (mười tám) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 27/10/2023.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47, khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

- Tịch thu tiêu hủy 01 bao niêm phong được dán kín các mép, có chữ ký của các thành phần theo biên bản niêm phong ngày 27/10/2023 (bên trong bao niêm phong là khối lượng ma túy sau giám định) và dấu của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận Tây Hồ.

- Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE, màu đen, số IMEI: 357938438863094, đã qua sử dụng.

- Trả lại bị cáo 01 (một) túi đeo màu nâu; 01 (một) ví màu xanh; 01 (một) căn cước công dân số xx mang tên Trần Duy T; 01 (một) thẻ ngân hàng MB số xx mang số Serial DKW92H3; 01 (một) thẻ ngân hàng MSB số xx mang tên Tran Duy T; 01 (một) thẻ ngân hàng DONG A BANK số xx mang tên Tran Duy T; 01 (một) thẻ ngân hàng TECHCOMBANK số xx mang tên Tran Duy T; 01 (một) thẻ ngân hàng TECHCOMBANK số xx mang tên Tran Duy T.

(Vật chứng đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Tây Hồ theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 25/01/2024).

3.Về án phí: Căn cứ Khoản 2 Điều 135; Khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Bị cáo Trần Duy T phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Án xử công khai sơ thẩm.

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ