vanban.org

Bản án 25/2024/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Hồng Bàng, TP. Hải Phòng Tuyên án 16/01/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

ợc tinh t ừ ngày tạm giữ ngày

́ 30/10/2023. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tuyên: Tịch thu tiêu hủy số ma tuý còn lại sau giám định được niêm phong trong 01 (một) phong bì thư dán kín, bên trong có toàn bộ mẫu giám định và… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "NDT - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? ợc tinh t ừ ngày tạm giữ ngày
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HỒNG BÀNG
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 25/2024/HS-ST
Ngày 16-01-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HỒNG BÀNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Hải Yến.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Ngọc Hải;

Ông Bùi Văn Khương.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Hương Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Diệu Trang - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 30/2024/TLST-HS ngày 04 tháng 01 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 30/2024/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 01 năm 2024, đối với bị cáo:

NDT, sinh ngày 12 tháng 7 năm 1983, tại Hà Nội. Nơi ĐKHKTT: Số A, phường B, quận C, Thành phố Hà Nội; chỗ ở: Số 64 D, phường E, quận F, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con G và bà H; có vợ là I (đã ly hôn) và có 02 con; nhân thân: Bản án số 56/HS-ST ngày 25/4/2019 Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xử phạt 15 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” (đã xoá án tích); tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 30/10/2023, tạm giam từ ngày 03/11/2023; có mặt.

Người chứng kiến: Ông NCK; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do nghiện chất ma túy nên khoảng 12 giờ ngày 30/10/2023, NDT một mình điều khiển xe mô tô BKS16P9-6166 đến khu vực ngõ 30 J, quận K, thành phố Hải Phòng mua ma túy sử dụng. Tại đây, NDT đi đến nhà giữa ngõ, cổng đóng kín có một lỗ nhỏ, NDT đưa 200.000 đồng qua lỗ thoáng, bên trong có người nhận (chưa xác định được nam hay nữ) và đưa cho NDT 02 gói nilon dán kín màu tím, bên trong chứa ma túy Heroine. NDT nhận ma túy và điều khiển xe tìm nơi sử dụng. Khi đi đến khu vực trước nhà số 29 L, M, F, Hải Phòng thì bị lực lượng cơ quan Công an kiểm tra, phát hiện và thu giữ tang vật.

Xét nghiệm chất ma túy trong nước tiểu của NDT, kết quả NDT dương tính với chất ma túy MET, MOP.

Tại bản Kết luận giám định số 866/KL-KTHS ngày 01/11/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng kết luận: “Chất bột màu trắng gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,40 gam, loại Heroine”.

Vật chứng vụ án: 01 (một) phong bì thư dán kín trong có toàn bộ mẫu giám định còn lại sau giám định có dấu niêm phong số 866MT/PC09 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng; 01 xe mô tô BBKS 16P9-6166 nhãn hiệu Honda Wave đã qua sử dụng, kết quả tra cứu xe không có trong cơ sở dữ liệu vật chứng, xe mô tô thuộc sở hữu của bà N, sinh năm 1964, trú tại số 797 O, E, F, Hải Phòng, ngày 30/10/2023 NDT mượn xe nhưng không nói là đi đâu, bà N không biết việc NDT sử dụng xe đi mua ma túy nên Cơ quan Công an quận Hồng Bàng đã ra trả xe mô tô trên cho bà N.

Tại bản Cáo trạng số 05/CT-VKSHB ngày 03/01/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Hồng Bàng truy tố bị cáo NDT về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà:

Bị cáo khai nhận hành vi đã thực hiện phù hợp với nội dung bản Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân quận Hồng Bàng. Người chứng kiến là ông NCK được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa không có lý do, nhưng đã có lời khai trong hồ sơ và được công bố công khai tại phiên tòa.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hồng Bàng giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như nội dung bản Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo, Kiểm sát viên đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hồng Bàng đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt: NDT mức án từ 24 tháng tù đến 30 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Tịch thu tiêu hủy vật chứng của vụ án là số ma túy còn lại sau giám định. Bị cáo phải nộp án phí theo quy định.

Sau khi kết thúc phần tranh luận, bị cáo nói lời sau cùng, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức hình phạt, tạo điều kiện để bị cáo được hưởng sự khoan hồng của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về tố tụng:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra Công an quận Hồng Bàng, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận Hồng Bàng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về sự vắng mặt của người chứng kiến: Ông NCK được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên toà không có lý do; người chứng kiến đã có lời khai tại các giai đoạn tố tụng, được công bố công khai tại phiên toà và việc vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử. Do đó, căn cứ Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt người chứng kiến được triệu tập đến phiên toà.

- Về tội danh:

Lời khai nhận của bị cáo NDT tại phiên tòa thống nhất và phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra; phù hợp với lời khai của người chứng kiến, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ, khẳng định: Do nghiện chất ma túy nên ngày 30/10/2023, tại khu vực trước số nhà 29 L, M, F, Hải Phòng, NDT có hành vi cất giữ bất hợp pháp trên người 0,4gam ma túy loại Heroine, mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị phát hiện, bắt quả tang. Như vậy, hành vi của bị cáo NDT đủ cấu thành phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điều 249 Bộ luật Hình sự như kết luận của Kiểm sát viên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

- Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội:

Tính chất của vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm, được thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp, đã xâm phạm chế độ quản lý đặc biệt của Nhà nước về cất giữ các chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội.

- Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và mức hình phạt:

[5] Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng theo Điều 52 Bộ luật Hình sự. Nhân thân bị cáo có 01 tiền án, mặc dù đã được xoá án tích nhưng bị cáo vẫn tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý nên Hội đồng xét xử cần đánh giá ý thức chấp hành pháp luật của bị cáo là kém. Tại cơ quan điều tra và tại phiên toà, bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

- Về hình phạt bổ sung:

Ngoài hình phạt chính, bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Xét bị cáo không có thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

- Về xử lý vật chứng và các vần đề khác:

Cần tịch thu tiêu hủy lượng ma túy còn lại sau giám định đã được niêm phong số 866MT/PC09 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng theo điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Qua xác minh, xét thấy xe mô tô Honda Wave BKS 16P9 - 6166 là tài sản hợp pháp của bà N, ngày 30/10/2023 bà N cho NDT mượn xe nhưng không biết NDT sử dụng đi mua ma túy nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Hồng Bàng đã trả lại bà N xe mô tô trên là có căn cứ.

Đối với người đã bán ma túy cho NDT tại khu vực ngõ 30 J, hiện chưa xác định được nhân thân lai lịch, Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra, xác minh xử lý sau là có căn cứ.

Bị cáo NDT phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt: NDT 30 (ba mươi) tháng tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy". Thờ i ha ̣n chấp hành hinh pha ̣t tù đư

ợc tinh t ừ ngày tạm giữ ngày

̀

́ 30/10/2023.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tuyên: Tịch thu tiêu hủy số ma tuý còn lại sau giám định được niêm phong trong 01 (một) phong bì thư dán kín, bên trong có toàn bộ mẫu giám định và vỏ bao bì còn lại sau giám định, có dấu niêm phong số 866MT/PC09 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng.

(Đặc điểm vật chứng theo Quyết định chuyển vật chứng số 06/QĐ-VKSHB ngày 03/01/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Hồng Bàng; Biên bản giao nhận vật chứng ngày 04/01/2024 giữa Công an quận Hồng Bàng và Chi cục Thi hành án dân sự quận Hồng Bàng)

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: Buộc bị cáo NDT phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ