- Tranh chấp gì? án hình sự — "trung - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? TAND Thành phố Hà Nội;
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự Tịch thu tiêu hủy; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚC THỌ THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 25/2024/HS-ST Ngày: 08 - 4 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚC THỌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Xuân Tuân Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đỗ Thị Hòa và bà Trịnh Thị Ánh Thu
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị An - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phúc Thọ, Thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Phúc Thọ, Thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Nguyên Ngọc - Kiểm sát viên. Ngày 08 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phúc Thọ, Thành phố Hà Nội, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 18/2024/TLST- HS ngày 20 tháng 3 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 17/2024/QĐXXST- HS ngày 26 tháng 3 năm 2024, đối với: Bị cáo Nguyễn Quang T (tên gọi khác: Nguyễn Văn T1), sinh năm: 1976 tại huyện P; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và sinh sống: Thôn L, xã V, huyện P, Thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Q (c) và bà Tạ Thị T2; vợ: Nguyễn Thị N, có 02 con, lớn sinh năm 1998, nhỏ sinh năm 2002; tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Bản án số 27/2012/HSST ngày 19/6/2012, Tòa án nhân dân huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội xử 21 tháng cải tạo không giam giữ và phạt bổ sung 3.000.000 đồng về tội “Đánh bạc”. Bị cáo bị bắt bị tạm giữ từ ngày 23/12/2023 đến ngày 29/12/2023 được tại ngoại; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11 giờ 00 phút ngày 23/12/2023, Nguyễn Quang T đang ở nhà tại thôn L, V thì lên cơn nghiện, thèm sử dụng ma túy. T có 1.000.000 đồng tiền công làm thợ xây dựng. T đi xe máy Honda Dream màu nâu, đã cũ, BKS: 29V3-12635 theo đường tỉnh lộ 417 đến ngã tư V, thị xã S gặp một người đàn ông lạ mặt có dáng vẻ người nghiện đang đứng một mình ven đường, T đến gần và hỏi "Có hàng trắng không bán cho một triệu" (tức là T hỏi mua 1.000.000 đồng ma túy heroine); Người đàn ông trả lời là: "Có", T lấy tiền từ trong túi quần đang mặc phía sau 1.000.000 đồng đưa cho người đàn ông này. Sau khi cầm tiền, người đàn ông này lấy từ trong túi quần bên trái đang mặc đưa cho T 01 túi nilong trong suốt bên trong có 06 gói nilong nhỏ, trong bọc giấy bạc màu vàng chứa ma túy Heroine. T cầm túi ma túy cất vào túi quần trái đang mặc và quay xe đi về, đi được khoảng hơn 01 km, đến đoạn đường Tỉnh lộ 417 thuộc xã S thì gặp tổ công tác của Công an xã S, huyện P yêu cầu kiểm tra hành chính. T đã tự khai nhận và giao nộp ma túy.
Vật chứng thu giữ:
- 01 (một) túi nilon kích thước khoảng (6x10) cm bên trong có 06 (sáu) gói nhỏ bằng giấy bạc màu vàng có kích thước khoảng (1x0,5)cm, bên ngoài bọc lớp nilon, trong cùng mỗi gói đều chứa chất bột màu trắng (T khai là ma túy heroine).
- 01 (một) xe máy kiểu dáng HONDA Dream màu nâu đã cũ, mang BKS: 29V3-126.35.
- 01 (một) điện thoại nhãn hiệu SAMSUNG màu xanh đã cũ.
Tại Bản kết luận giám định số: 8711/KL-KTHS ngày 30/12/2023 của Phòng K Công an thành phố H, kết luận: “Chất bột màu trắng bên trog 06 gói giấy bạc màu vàng, bên ngoài mỗi gói bọc lớp ni lông đều là ma túy loại Heroin, tổng khối lượng: 0,613 gam.” Tại Bản Cáo trạng số 21/CT-VKS ngày 20/3/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Phúc Thọ, Thành phố Hà Nội truy tố Nguyễn Quang T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa: Bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo vì bị cáo đang pđiều trị bệnh hoại tử xương. Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Phúc Thọ thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo Nguyễn Quang T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Quang T từ 15 - 18 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày thi hành án, được trừ thời gian đã tạm giữ. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Đề nghị xử lý vật chứng vật chứng và án phí hình sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau: [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện P, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Phúc Thọ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến, không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. [2]. Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng của Viện Kiểm sát đã truy tố. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận: Khoảng 11 giờ ngày 23/12/2023 Nguyễn Quang T đã mua 0,613 gam ma túy loại Heroine, cất giấu trong người, mục đích để sử dụng. Đến khoảng 11 giờ 30 phút cùng ngày, trên đoạn đường tỉnh lộ 417 thuộc xã S thì tổ công tác của Công an xã S, huyện P Công an bắt quả tang cùng vật chứng. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Phúc Thọ truy tố bị cáo theo tội danh và viện dẫn điều luật như nêu trên là có căn cứ, đúng pháp luật. [3]. Xét tính chất của vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất gây nghiện, gây ảnh hướng xấu đến nhiều mặt của đời sống xã hội. Bị cáo có nhân thân xấu nên cần áp dụng hình phạt nghiêm, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để cải tạo giáo dục. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử có xem xét: tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đang phải điều trị bệnh hoại tử xương, thoái hóa khớp háng, là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Xét thấy bị cáo là người nghiện ma túy, không có tài sản, vì vậy sẽ không áp dụng hình phạt bổ sung. [4]. Quá trình điều tra bị cáo khai mua ma túy của người đàn ông có biểu hiện nghiện ma túy, không rõ nhân thân lai lịch, đây là lần đầu tiên T mua ma túy của người này. Cơ quan điều tra đã thực hiện các biện pháp nghiệp vụ điều tra nhưng không xác định được người bán ma túy cho T, nên không đề cập xử lý trong vụ án này là có căn cứ. [5]. Về xử lý vật chứng:
- Đối với 01 (một) điện thoại di động Sam Sung màu xanh đã cũ thu giữ của T. Quá trình điều tra xác định không liên quan đến việc vi phạm pháp luật; Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện P đã trả lại cho T là có cơ sở.
- Đối với 01 (một) xe máy kiểu dáng Honda Dream màu nâu đã cũ, mang BKS: 29V3-126.35, đăng ký chính chủ mang tên Tạ Hữu T3, sinh năm 1980, địa chỉ: Thôn L, xã V, huyện P, thành phố Hà Nội. Cơ quan điều tra xác minh: Khoảng năm 2015 chị Nguyễn Thị N (vợ T) có mua chiếc xe máy trên của anh T3 với giá 10.000.000 đồng, hai bên có viết giấy tờ mua bán nhưng do thời gian đã lâu nên không nhớ giấy tờ để đâu, không làm thủ tục sang tên chính chủ. Ngày 23/12/2023, chị N để chiếc xe máy ở nhà, T đã tự ý lấy, chị N không biết việc T sử dụng xe máy để vi phạm pháp luật. Chị N có đơn đề nghị xin lại chiếc xe máy nêu trên, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện P đã trả lại cho chị Nguyễn Thị N là có căn cứ.
- 01 (một) phong bì thư niêm phong của phòng PC09- Công an thành phố H bên trong chứa khối lượng ma túy Heroin còn lại sau giám định, sẽ tịch thu tiêu hủy. [6]. Án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật. Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249 điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Quang T (tên gọi khác Nguyễn Văn T1): 13 (mười ba) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày thi hành án, được trừ thời gian đã tạm giữ từ ngày 23/12/2023 đến ngày 29/12/2023. 2. Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong dán kín của phòng PC09-CATP Hà Nội, bên ngoài có chữ ký của giám định viên Vũ Việt C, đồng chí Đào Ngọc Minh L – Phó trưởng Công an xã S và đương sự Nguyễn Quang T. (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 29/3/2024 giữa Công an huyện P với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phúc Thọ, Thành phố Hà Nội). 3. Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. 4. Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
| Nơi nhận: - TAND Thành phố Hà Nội; - VKSND huyện Phúc Thọ, TP Hà Nội; - CCTHADS huyện Phúc Thọ, Hà Nội; - CQ THAHS huyện Phúc Thọ, Hà Nội; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Xuân Tuân |