- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lường Văn C - tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lường Văn C phạm tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự xử phạt; Điều 47 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG ẢNG TỈNH ĐIỆN BIÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 25/2024/HS-ST Ngày: 17-12-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG ẢNG - TỈNH ĐIỆN BIÊN
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Vân
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông: Vừ A Sinh
2. Ông: Lò Văn Ngắm
- Thư ký phiên tòa: Bà Mai Hồng Hạnh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên tham gia phiên tòa: Ông Phạm Ngọc Tùng Lâm - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 12 năm 2024, tại điểm cầu trung tâm trụ sở Toà án nhân dân huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên và điểm cầu thành phần trụ sở Công an huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự thụ lý số: 25/2024/TLST-HS, ngày 28 tháng 11 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 25/2024/QĐXXST – HS ngày 06 tháng 12 năm 2024 đối với bị cáo: Họ và tên: Lường Văn C; Tên gọi khác: Không; sinh ngày: 29/02/1976 tại huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên; Nơi cư trú: Bản XT 2, xã BL, huyện MA, tỉnh Điện Biên; Nghề nghiệp: Nông nghiệp; trình độ văn hóa: 3/12; Giới tính: Nam; Dân tộc: Thái; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông: Lường Văn É1 (đã chết) và con bà Lường Thị Ú (đã chết) ; Gia đình bị cáo có 08 anh, chị, em, bị cáo là con thứ 8 trong gia đình; Bị cáo có vợ là chị Lường Thị Thân, sinh năm: 1975 và 02 người con lớn nhất sinh năm 1997, con nhỏ nhất sinh năm 2000; Tiền sự: Không; Tiền án: Không; Nhân Thân: Ngày 07/10/2018, có hành vi Tàng trữ trái phép chất ma tuý. Bị Công an huyện Tuần Giáo xử phạt hành chính theo QĐ số 17 ngày 20/11/2018, hình thức phạt tiền: 1.000.000 đồng, đã nộp phạt xong; Ngày 12/3/2023, có hành vi Tàng trữ trái phép chất ma tuý. Bị Công an huyện Mường Ảng xử phạt hành chính theo QĐ số 08 ngày 07/6/2023, hình thức phạt tiền: 3.500.000 đồng, đã nộp phạt xong; chưa bị kết án. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/9/2024 cho đến ngày xét xử, bị cáo được trích xuất có mặt tại phiên tòa.
Người tham gia tại điểm cầu thành phần:
1. Ông Vũ Trí Giáp - Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên.
2. Ông Lò Văn Minh – Tổ trưởng tổ bảo vệ, cán bộ Đội hỗ trợ tư pháp công tác tại Công an huyện Mường Ảng.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa thì hành vi phạm tội của Lường Văn C được tóm tắt như sau:
Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 01/9/2024, Lường Văn C một mình đi bộ từ nhà tại bản XT 2, xã BL, huyện MA để đi tìm mua ma tuý về sử dụng. Khi đến khu vực đường vắng thuộc bản Búng, xã Búng Lao thì gặp một người đàn ông dân tộc Mông không quen biết nhìn trông giống người nghiện. Qua trao đổi, Lường Văn C mua được 02 gói đều được gói bằng mảnh túi nilon màu xanh, trong đó: 01 gói chứa Heroine và 01 gói chứa 03 viên Methamphetamine với giá 200.000 đồng. Mua xong, Lường Văn C cất giấu 02 gói ma tuý vào trong túi quần bên phải rồi đi bộ về nhà còn người đàn ông dân tộc Mông đã bán ma tuý đi đâu không biết. Hồi 19 giờ 15 phút, Lường Văn C về đến nhà, lấy 02 gói ma tuý từ trong túi quần ra để ở trước mặt chuẩn bị sử dụng thì bị Tổ công tác Công an xã Búng Lao phối hợp với Công an xã Mường Lạn đi vào kiểm tra, phát hiện bắt quả tang. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong thu giữ 0,14 gam Heroine và 0,30 gam Methamphetamine (Hồng phiến).
Ngày 09/9/2024 Cơ quan CSĐT Công an huyện Mường Ảng quyết định khởi tố vụ án hình sự và Quyết định khởi tố bị can đối với Lường Văn C về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại biên bản niêm phong vật chứng hồi 20 giờ 50 phút ngày 01/9/2024 thì vật chứng thu giữ của Lường Văn C 01 gói Heroine được gói bằng mảnh nilon màu xanh bên trong có chứa chất bột màu trắng nghi là Heroine và 01 gói được gói bằng mảnh nilon màu xanh bên trong có chứa 03 viên nén màu hồng có ký hiệu WY nghi là Methamphetamine (Hồng phiến).
Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lượng ngày 01/9/2024 thì 01 gói Heroine được gói bằng mảnh nilon màu xanh bên trong có chứa chất bột màu trắng là Heroine có khối lượng là: 0,14gam (Ký hiệu là M1), 01 gói được gói bằng mảnh nilon màu xanh bên trong có chứa 03 viên nén màu hồng có ký hiệu WY nghi là Methamphetamine có khối lượng là: 0,30gam (Ký hiệu là M2).
Tại bản kết luận giám định số: 1433/KL- KTHS, ngày 09/9/2024 của cơ quan giám định kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận: Khối lượng vật chứng thu giữ của Lường Văn C gồm:
- Mẫu M1: 0,14 gam chất bột màu trắng là ma túy: Loại Heroine;
- Mẫu M2: 0,30 gam viên nén màu hồng là chất ma túy: Loại Methamphetamine.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu.
Cáo trạng số: 113/CT - VKSMA, ngày 26/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Ảng đã truy tố bị cáo Lường Văn C về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Ảng vẫn giữ nguyên quan điểm đã truy tố bị cáo về tội danh, điều luật đã áp dụng như nội dung bản Cáo trạng. Sau khi đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Ảng đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 BLHS xử phạt bị cáo Lường Văn C từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 46; điểm a, c Khoản 1 Điều 47 của BLHS; Điểm a, c Khoản 2 Điều 106 của BLTTHS: Tịch thu tiêu hủy 0,08 gam Heroine và 0,25 gam Methamphetamine là vật chứng còn lại, hoàn lại của vụ án.
- Tịch thu tiêu huỷ 02 mảnh túi ni lông màu xanh và 01 phong bì Công văn của Công an huyện Mường Ảng niêm phong vật chứng ban đầu; 01 phong bì của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên.
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 BLTTHS và điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH về Quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án bị cáo Lường Văn C phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Lời nói sau cùng, Lường Văn C nhận phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Qua quá trình xét hỏi và tranh luận công khai tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các tài liệu chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án, đúng như bản Cáo trạng của Viện kiểm sát đã nêu và phù hợp với vật chứng đã thu được của bị cáo cụ thể: Hồi 19 giờ 50 phút ngày 01 tháng 9 năm 2024, tại nhà ở của mình thuộc bản XT 2, xã BL, huyện MA Lường Văn C bị Công an thị trấn Mường Ảng, huyện Mường Ảng bắt quả tang khi đang tàng trữ trái phép 0,14 gam Heroine và 0,30 gam Methamphetamine mục đích để sử dụng.
Do đó, có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Lường Văn C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự như kết luận của Kiểm sát viên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
. Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm vào những quy định của Nhà nước trong việc quản lý, sử dụng các chất ma túy, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Vì vậy cần xử lý nghiêm minh nhằm răn đe và phòng ngừa chung.
. Về tình tiết định khung hình phạt: Khối lượng ma túy thu giữ của Lường Văn C là 0,14 gam Heroine và 0,30 gam Methamphetamine. Theo quy định tại Điều 4 Nghị định số 19/2018/NĐ - CP ngày 02/02/2018 của Chính phủ quy định về việc tính tổng khối lượng hoặc thể tích chất ma túy tại một số điều của Bộ luật hình sự thì tổng khối lượng hai chất ma túy được cộng vào để làm căn cứ truy tố, xét xử đối với bị cáo là 0,14 gam + 0,30gam = 0,44 gam. Bị cáo tàng trữ 02 chất ma tuý phải chịu trách nhiệm hình sự về tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự có khung hình phạt từ 01 đến 05 năm tù.
. Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo: Bị cáo sinh ra và lớn lên tại huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên được bố mẹ nuôi ăn học hết lớp 3/12 thì nghỉ học ở nhà lao động sản xuất cùng gia đình. Ngày 07/10/2018, có hành vi Tàng trữ trái phép chất ma tuý nhưng không bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Bị Công an huyện Tuần Giáo xử phạt hành chính, hình thức phạt tiền: 1.000.000 đồng, đã nộp phạt xong; Ngày 12/3/2023, có hành vi Tàng trữ trái phép chất ma tuý nhưng không bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Bị Công an huyện Mường Ảng xử phạt hành chính, hình thức phạt tiền: 3.500.000 đồng, đã nộp phạt xong. Bản thân bị cáo nghiện chất ma túy, đã bị xử phạt hành chính nên có nhân thân không tốt. Bởi vậy Hội đồng xét xử cần đưa ra mức hình phạt thật nghiêm khắc, để cải tạo giáo dục bị cáo và cũng là cơ hội để bị cáo cai nghiện ma túy. Tại phiên tòa cũng như trong quá trình điều tra, bị cáo đã thành khẩn khai báo, thể hiện sự ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội của mình nên Hội đồng xét xử cần xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ qui định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Tuy nhiên, căn cứ vào tính chất hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo nên Hội đồng xét xử xét thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống, xã hội một thời gian để bị cáo sửa chữa tội lỗi của mình, sau này trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng quy định tại Điều 52 của BLHS.
Theo khoản 5 Điều 249 của BLHS quy định bị cáo còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đến năm trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Song xét điều kiện hoàn cảnh của bị cáo thu nhập từ làm ruộng không có khả năng thi hành, nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
. Tại phiên tòa, xét thấy đề nghị của đại diện Viện kiểm sát có căn cứ và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
. Về vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 46; Điểm a, c Khoản 1 Điều 47 của BLHS; Điểm a, c Khoản 2 Điều 106 của BLTTH Hội đồng xét xử thấy rằng: 0,08 gam Heroine và 0,25 gam Methamphetamine là vật chứng còn lại, hoàn lại sau khi gửi mẫu giám định cần tịch thu tiêu hủy.
- 02 mảnh túi nilông màu xanh; 01 phong bì Công văn của Công an huyện Mường Ảng niêm phong vật chứng ban đầu; 01 phong bì của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên không còn giá trị sử dụng cần tịch thu để tiêu huỷ.
Về nguồn gốc số Heroine, Methamphetamine bị thu giữ, bị cáo khai mua của một người đàn ông dân tộc Mông không biết tên và địa chỉ. Quá trình điều tra không có cơ sở điều tra làm rõ nên HĐXX không xem xét.
. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 BLTTHS và điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH về Quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án bị cáo Lường Văn C phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.
. Căn cứ Điều 331, Điều 333 BLTTHS: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
. Trong quá trình điều tra, truy tố thấy rằng: Các hành vi, Quyết định của Cơ quan điều tra, Điều tra viên; Viện kiểm sát, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ Điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự:
1. Tuyên bố: Bị cáo Lường Văn C phạm tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
Căn cứ: Điểm i Khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt: Lường Văn C 01 (một) năm 08 (tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 01 tháng 9 năm 2024. Không áp dụng phạt hình phạt bổ sung là tiền đối với bị cáo.
2. Vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 46; Điểm a, c Khoản 1 Điều 47 của BLHS; Điểm a, c Khoản 2 Điều 106 của BLTTHS: Tịch thu tiêu hủy 0,08 gam Heroine và 0,25 gam Methamphetamine là vật chứng còn lại, hoàn lại sau khi gửi mẫu giám định.
- Tịch thu tiêu huỷ 02 mảnh túi nilông màu xanh; 01 phong bì Công văn của Công an huyện Mường Ảng niêm phong vật chứng ban đầu; 01 phong bì của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên (Chi Cục thi hành án dân sự huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên đang quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 27/11/2024).
3. Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 BLTTHS và điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH về Quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án bị cáo Lường Văn C phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo đối với bản án: Căn cứ Điều 331, Điều 333 BLTTHS: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Điện Biên; - VKSND tỉnh Điện Biên; - Sở Tư pháp tỉnh Điện Biên; - VKSND h.Mường Ảng; - Công an h.Mường Ảng; Cơ quan THAHS Công an huyện; Nhà tạm giữ CA huyện Mường Ảng - Chi cục THADS h.Mường Ảng; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ. | T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà (Đã ký) Nguyễn Thị Vân |