vanban.org

Bản án 25/2024/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng Tuyên án 31/12/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” .

Xử phạt: Bị cáo Hoàng Văn T - 15 tháng tù, Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ 05/9/2024. Về việc xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 - Bộ luật Tố tụng hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Hoàng Văn Tiềm, tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý" - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” .
  • Căn cứ chính? Bộ luật tố tụng Hình sự Xử phạt; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HÒA AN
TỈNH CAO BẰNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 25 /2024/HSST
Ngày: 31/12/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒA AN - TỈNH CAO BẰNG

Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bế Lan Phương

Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Đàm Văn Dần

2. Bà Long Thị Nết

Thư ký phiên tòa: bà Hoàng Hồng Nụ - Thư ký, Tòa án nhân dân huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng tham gia phiên tòa: Ông Lý Hoàng Hiếu - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 12 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng mở phiên tòa trực tuyến: Điểm cầu trung tâm là Phòng xét xử Tòa án nhân dân huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng; Điểm cầu thành phần là phòng hỏi cung Nhà tạm giữ công an huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng, vụ án hình sự thụ lý số: 21 /2024/TLST-HS ngày 29 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 25/2024/ QĐXXST-HS ngày 16/12/2024 , quyết định hoãn phiên tòa số 03/2024/HSST-QĐ ngày 27/12/2024 của Tòa án nhân dân huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng đối với bị cáo:

Hoàng Văn T; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 14/8/1988, tại huyện H, tỉnh Cao Bằng; Hộ khẩu thường trú và nơi ở hiện tại: Xóm N, xã Q, huyện H, tỉnh Cao Bằng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Nùng; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 10/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Hoàng Văn Th; Sinh năm 1963. Con bà: Quách Thị M; Sinh năm 1964; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con cả. Vợ, con: Chưa có; Tiền án, Tiền sự: Chưa có.

Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam tại Nhà Tạm giữ Công an huyện Hoà An, tỉnh Cao Bằng từ ngày tạm giữ 05/9/2024 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Hoàng Văn Th- Sinh năm 1963

Địa chỉ: Xóm N, xã Q, huyện H, tỉnh Cao Bằng; Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Sáng ngày 05/9/2024, Hoàng Văn T một mình điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 11AS- 011.06 đến khu vực bến xe khách cũ thuộc phường S, thành phố C, tỉnh Cao Bằng mục đích tìm mua Heroine để sử dụng cho bản thân. Khi đến nơi, T gặp và mua với một người đàn ông (không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể) được 01 gói Heroine gói giấy bạc màu vàng, với giá 400.000 đồng (bốn trăm nghìn đồng). Trên đường đi về nhà, T cất giấu gói Heroin vừa mua được vào trong ốp cao su của gác chân bên trái phía trước xe mô to T đang điều khiển. Đến khu vực xóm N, xã Đ, huyện H, tỉnh Cao Bằng thì bị Tổ công tác Công an huyện Hòa An kiểm tra, phát hiện bắt quả tang và thu giữ toàn bộ vật chứng.

Ngày 05/9/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hoà An ra Quyết định trưng cầu giám định số 292/QĐ-ĐCSHS-KTMT đối với vật chứng của vụ án. Tại Bản kết luận giám định số 510/KL-KTHS, ngày 08/9/2024 của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Cao Bằng kết luận: “Mẫu chất bột màu trắng dạng cục lẫn bột bên trong phong bì niêm phong gửi giám định là ma túy, loại: Heroine ”.

Hành vi của bị cáo Hoàng Văn T đã phạm vào tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo quy định tại Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại Cáo trạng số: 25 /CT-VKSHA ngày 28/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng đã truy tố bị cáo Hoàng Văn T về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma tuý ” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa bị cáo Hoàng Văn T thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng tham gia phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Hoàng Văn T; Đề nghị HĐXX tuyên bố bị cáo Hoàng Văn T phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma tuý ” .

Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Hoàng Văn T từ 15 tháng đến 18 tháng tù.

Về việc xử lý vật chứng: Áp dụng điều 47 Bộ luật Hình Sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Đề nghị xử:

Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì được niêm phong, mặt trước ghi “ Số 510/KL-KTHS. Hoàn mẫu sau giám định vụ Hoàng Văn T, có hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy ”. mặt sau có chữ ký của những người tham gia niêm phong và đóng dấu giáp lai của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cao Bằng

- vì không có giá trị sử dụng.

Hoàn trả lại ông Hoàng Văn Th - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại xe WAVE, màu xanh đã qua sử dụng, biển kiểm soát 11AS-011.06, số khung RLHJA3933PY163768; Số máy JA70E0244523 (trong cốp xe không có đồ vật, tài sản);

Trả lại cho bị cáo Hoàng Văn T: 01 (một) điện thoại di động, đựng trong phong bì niêm phong, mặt trước ghi “ Điện thoại của Hoàng Văn T, SN 1988, HKTT: Xóm N, xã Q, huyện H, tỉnh Cao Bằng. Hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy, bắt ngày 05/9/2024” mặt sau có chữ ký của Hoàng Văn T, những người tham gia niêm phong và đóng dấu giáp lai của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Tại phần tranh luận, bị cáo không có ý kiến tranh luận với lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng.

Khi được nói lời sau cùng, bị cáo có ý kiến mong Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo hưởng mức án thấp để bị cáo sớm có cơ hội khắc phục sửa chữa lỗi lầm của mình đã gây ra.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Hòa An, Cao Bằng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa An, Cao Bằng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Nhận định của Hội đồng xét xử về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo Hoàng Văn T tại phiên tòa hôm nay là hoàn toàn khách quan, phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra và các chứng cứ, tài liệu khác đã thu thập có trong hồ sơ vụ án như biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với vật chứng thu giữ; Bản kết luận giám định số 510/KL-KTHS, ngày 08/9/2024 của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Cao Bằng kết luận: “Mẫu chất bột màu trắng dạng cục lẫn bột bên trong phong bì niêm phong gửi giám định là ma túy, loại: Heroine ”.

Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định: Do bản thân sử dụng ma túy, nên ngày 05/9/2024, tại khu vực xóm N, xã Đ, huyện H, tỉnh Cao Bằng, Hoàng Văn T đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,1673 gam (không phẩy một sáu bảy ba gam) Heroine nhằm mục đích sử dụng cho bản thân.

Với hành vi tàng trữ ma túy với mục đích để sử dụng như trên hành vi của bị cáo Hoàng Văn T đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự 2015.

Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi của bị cáo đã xâm phạm quyền quản lý, sử dụng độc quyền của Nhà nước về các chất ma túy, là nguyên nhân phát sinh nhiều tệ nạn và tội phạm khác. Tệ nạn ma túy là hiểm họa lớn cho toàn xã hội, hành vi của bị cáo không chỉ hủy hoại sức khỏe của bản thân, làm suy thoái giống nòi, làm khánh kiệt kinh tế, phá hoại hạnh phúc gia đình mà còn gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự an toàn xã hội. Bản thân bị cáo phải nhận thức được tác hại của ma túy đối với người sử dụng và đối với xã hội; Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự nhưng do đua đòi, không làm chủ được bản thân trước cám dỗ của ma túy nên đã đi vào con đường phạm tội với lỗi cố ý, bị cáo đã mua Heroine về để phục vụ cho nhu cầu của bản thân.

Xét nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; Nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51- Bộ luật hình sự.

Về tình tiết tăng nặng: Không có.

Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự bị cáo còn phải chịu hình phạt bổ sung “phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng....tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Xét bị cáo là người không có thu nhập ổn định, mua ma túy mục đích để sử dụng cho bản thân do đó Hội đồng xét xử xem xét không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Điều 47- Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 - Bộ luật tố tụng hình sự .

Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì được niêm phong, mặt trước ghi “ Số 510/KL-KTHS. Hoàn mẫu sau giám định vụ Hoàng Văn T, có hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy ”. mặt sau có chữ ký của những người tham gia niêm phong và đóng dấu giáp lai của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cao Bằng

- vì không có giá trị sử dụng.

Hoàn trả lại cho ông Hoàng Văn Th - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại xe WAVE, màu xanh đã qua sử dụng, biển kiểm soát 11AS-011.06, số khung RLHJA3933PY163768; Số máy JA70E0244523 (trong cốp xe không có đồ vật, tài sản); Xác định ông Hoàng Văn Thái (bố của bị cáo) góp tiền cho bị cáo mua xe máy để làm phương tiện đi lại chung cho gia đình, ông Thái không biết bị cáo sử dụng xe vào việc phạm tội nên cần được hoàn trả cho ông Thái để quản lý sử dụng.

Hoàn trả cho bị cáo Hoàng Văn T: 01 chiếc điện thoại di động, đựng trong phong bì niêm phong, mặt trước ghi “ Điện thoại của Hoàng Văn T, SN 1988, HKTT: Xóm N, xã Q, huyện H, tỉnh Cao Bằng. Hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy, bắt ngày 05/9/2024” mặt sau có chữ ký của Hoàng Văn T, những người tham gia niêm phong và đóng dấu giáp lai của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng.Vì không liên quan đến hành vi phạm tội.

Xác nhận số vật chứng trên đã được chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng theo Biên bản giao ngày 04/12/2024.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tại phiên tòa, về tội danh, hình phạt là đúng pháp luật, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Các vấn đề khác: Đối với người đàn ông bán ma tuý cho Hoàng Văn T, do không biết họ tên, địa chỉ nên Cơ quan Cảnh sát điều tra đang tiếp tục điều tra xác minh, nếu có đủ căn cứ sẽ tiến hành khởi tố trong vụ án khác.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” .

Căn cứ: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 - Bộ luật Hình sự; Điều 329 - Bộ luật tố tụng Hình sự

Xử phạt: Bị cáo Hoàng Văn T - 15 tháng tù, Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ 05/9/2024.

2. Về việc xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 - Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì được niêm phong, mặt trước ghi “ Số 510/KL-KTHS. Hoàn mẫu sau giám định vụ Hoàng Văn T, có hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy ”. mặt sau có chữ ký của những người tham gia niêm phong và đóng dấu giáp lai của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cao Bằng

- vì không có giá trị sử dụng.

Hoàn trả lại cho ông Hoàng Văn Th - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại xe WAVE, màu xanh đã qua sử dụng, biển kiểm soát 11AS-011.06, số khung RLHJA3933PY163768; Số máy JA70E0244523 (trong cốp xe không có đồ vật, tài sản);

Hoàn trả cho bị cáo Hoàng Văn T: 01 chiếc điện thoại di động, đựng trong phong bì niêm phong, mặt trước ghi “ Điện thoại của Hoàng Văn T, SN 1988, HKTT: Xóm N, xã Q, huyện H, tỉnh Cao Bằng. Hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy, bắt ngày 05/9/2024” mặt sau có chữ ký của Hoàng Văn T, những người tham gia niêm phong và đóng dấu giáp lai của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng.

Xác nhận số vật chứng trên đã được chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng theo Biên bản giao ngày 04/12 /2024.

3. Về án phí: Áp dụng Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/ 12/ 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Hoàng Văn T phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm để sung quỹ nhà nước .

4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 332, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình, trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ