- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Thế D - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Thế D phạm tội “Đánh bạc”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ TỈNH BÌNH PHƯỚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 25/2024/HS-ST Ngày: 11-4-2024 |
NHÂN DA
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán Chủ toạ phiên tòa: Ông Vũ Hoàng Linh
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Phạm Văn Giới
Ông Vũ Trung Thành
- Thư ký phiên tòa: Bà Đào Thị Quỳnh Nga - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Bình Phước.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, tỉnh Bình Phước tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Minh - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 18/2024/TLST-HS ngày 01 tháng 3 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 20/2024/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 3 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Trần Thế D, sinh năm 1968; tại Campuchia; nơi cư trú: Thôn B, xã M, huyện B, tỉnh Bình Phước; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ học vấn: 08/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Thế D (đã chết) và bà Trần Thị A (đã chết); có vợ là Nhữ Thị Thu Hg, sinh năm 1976 (đã ly hôn); bị cáo sống chung như vợ chồng với Trần Thị H, sinh năm 1974; bị cáo có 04 con ruột, lớn nhất sinh năm 1994, nhỏ nhất sinh năm 2006; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 03/11/2023 cho đến nay.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 07/01/2019, Trịnh Đăng T, Dương Văn C có hành vi chuẩn bị địa điểm, dụng cụ, phương tiện để phục vụ cho các đối tượng tham gia đánh bạc thắng thua bằng tiền dưới hình thức đá gà, sóc đĩa để thu lợi bất chính tại vườn điều thuộc ấp 6, xã T, huyện Đ, tỉnh Bình Phước. Cùng ngày, Trần Thế D là tài xế điều khiển xe ô tô biển số 51C-135.13 chở Nguyễn Thị Xuân L và Trần Thị H đến tham gia đánh bạc cùng các đối tượng Trịnh Đăng T, Trịnh Minh T2, Nguyễn Thị Thu Ng, Phan Thị Phương A, Trần Thị Biền, Nguyễn Văn Đ, Nguyễn Bích H2 bằng hình thức sóc đĩa thắng thua bằng tiền và D được chủ sòng bạc trả công 2.000.000 đồng cho việc chở người đến sòng bạc tham gia đánh bạc. Sau đó, các đối tượng trên bị bắt quả tang với tổng số tiền sử dụng vào mục đích đánh bạc là 63.600.000 đồng.
Ngày 17/6/2020, Tòa án nhân dân huyện Đ đã xét xử Trịnh Đăng T, Dương Văn C, Trịnh Minh T2, Nguyễn Thị Thu Ng, Phan Thị Phương A, Nguyễn Thị Xuân L, Trần Thị Biền, Nguyễn Văn Đ, Trần Thị H, Nguyễn Bích H2 về tội “Tổ chức đánh bạc; Đánh bạc”. Trần Thế D cũng đã tự nguyện giao nộp số tiền 2.000.000 đồng tiền thu lợi bất chính.
Tại Bản Cáo trạng số 21/CTr-VKS ngày 28 tháng 02 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân (KSND) huyện Đ, tỉnh Bình Phước đã truy tố bị cáo Trần Thế D về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 2 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 (BLHS).
Tại phiên tòa:
Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo; đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trần Thế D phạm tội “Đánh bạc”.
Về hình phạt: Đề nghị áp dụng điểm b khoản 2, khoản 3 Điều 321; điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51; các Điều 38, 50, 58, 65 BLHS: Xử phạt bị cáo Trần Thế D 03 năm tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 năm tù; phạt bổ sung bị cáo từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng.
Về các vấn đề khác, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử xem xét quyết định theo quy định pháp luật;
Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội; không có trA luận gì, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của các Cơ quan tiến hành tố tụng (THTT) và Người THTT trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự (TTHS). Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định nói trên. Do đó, các hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan THTT, Người THTT đã thực hiện là đúng quy định pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng số 21/CTr-VKS ngày 28/02/2024 của Viện KSND huyện Đ, tỉnh Bình Phước đã truy tố. Xét lời khai nhận của bị cáo phù hợp lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra (BL 27-79), lời khai của người làm chứng cũng như những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Dù biết mục đích của Nguyễn Thị Xuân L và Trần Thị H nhờ bị cáo điều khiển xe ô tô biển số 93C-135.13 chở đến ấp 6, xã T, huyện Đ để đánh bạc thắng thua bằng tiền nhưng bị cáo vẫn đồng ý chở L và H đến địa điểm nói trên để tham gia đánh bạc cùng với các đối tượng khác với tổng số tiền sử dụng vào mục đích đánh bạc là 63.600.000 đồng và bị cáo D được hưởng lợi số tiền 2.000.000 đồng do chủ sòng bạc trả công chở người đến sòng bạc tham gia đánh bạc. Hành vi của bị cáo D đã phạm tội “Đánh bạc” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 321 BLHS.
Ngoài việc chở L, H vào ngày 07/01/2019, bị cáo còn khai nhận có chở L, H vào 03 ngày khác. Tuy nhiên, hành vi tổ chức đánh bạc của các đối tượng từ ngày 04/01/2019 đến ngày 06/01/2019 do Cơ quan điều tra chưa có đủ căn cứ chứng minh nên tách ra xử lý sau, Viện kiểm sát không đề cấp xử lý trong vụ án nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với hành vi “Tổ chức đánh bạc; Đánh bạc” của Trịnh Đăng T, Dương Văn C, Trịnh Minh T2, Nguyễn Thị Thu Ng, Phan Thị Phương A, Nguyễn Thị Xuân L, Trần Thị Biền, Nguyễn Văn Đ, Trần Thị H, Nguyễn Bích H2 vào ngày 07/01/2019; vật chứng xe ô tô biển số 51C-135.13; số tiền 2.000.000 đồng thu lợi bất chính của D đã được Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Bình Phước xét xử tại Bản án số 31/2020/HS-ST ngày 17/6/2020 hiện đã có hiệu lực pháp luật, Viện kiểm sát không đề cập đến việc xử lý nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Từ nhận định trên nhận thấy bản Cáo trạng số 21/CTr-VKS ngày 28/02/2024 của Viện kiểm sát truy tố bị cáo D là có căn cứ, đúng pháp luật.
Hành vi mà bị cáo đã thực hiện là hành vi nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến trật tự công cộng, ảnh hưởng đến nếp sống văn hóa lành mạnh của cộng đồng khu dân cư.
Bị cáo phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo làm chủ được hành vi của mình và nhận thức được hành vi chở các con bạc đến địa điểm tổ chức đánh bạc để các con bạc tham gia đánh bạc thắng thua bằng tiền dưới mọi hình thức và bị cáo được hưởng lợi từ hành vi giúp sức chở Nguyễn Thị Xuân L và Trần Thị H đến địa điểm đánh bạc nói trên là vi phạm pháp luật. Tuy nhiên, vì mối quan hệ cá nhân và mục đích tư lợi nên bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Xét trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu, đã nộp lại số tiền hưởng lợi bất chính; bị cáo là một trong những lao động chính trong gia đình; bị cáo có trình độ học vấn thấp; tại phiên tòa, bị cáo trình bày thời gian từ năm 1994 đến năm 2000 công tác tại Tỉnh đội, quá trình công tác được khen thưởng danh hiệu “Chiến sĩ thi đua cơ sở”. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS được áp dụng cho bị cáo. Bị cáo có nhân thân tốt.
Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo như đã phân tích ở trên, xét thấy: Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú ổn định, bị cáo có khả năng tự khắc phục sửa chữa bản thân. Hơn nữa, vụ án đã xảy ra từ lâu, mức độ nguy hiểm cho xã hội không còn, nên chỉ cần áp dụng hình phạt tương ứng với hành vi phạm tội của bị cáo nhằm răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo là đồng phạm giúp sức với vai trò không đáng kể; bị cáo không trực tiếp tham gia đánh bạc và đã tự nguyện nộp lại số tiền thu lợi. Hiện bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, vì vậy Hội đồng xét xử xem xét miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định pháp luật.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Trần Thế D phạm tội “Đánh bạc”.
2. Về hình phạt:
- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51; các Điều 38, 50; 58, 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Trần Thế D 03 (Ba) năm tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 05 (Năm) năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (Ngày 11-4-2024).
Giao bị cáo Trần Thế D cho Ủy ban nhân dân xã M, huyện B, tỉnh Bình Phước giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo có thay đổi nơi cư trú thì phải thông báo cho Ủy ban nhân dân nơi cư trú biết. Trường hợp người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo Trần Thế D.
3. Án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Trần Thế D phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Bị cáo được quyền kháng cáo Bản án này trong hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Phước (01); - Viện KSND tỉnh Bình Phước (01); - Viện KSND huyện Đ (01); - Chi cục THADS huyện Đ (01); - Công an huyện (03 gồm Nhà tạm giữ, Đội hồ sơ nghiệp vụ, Đội điều tra C huyện) - TT lý lịch tư pháp - Sở Tư pháp tỉnh Bình Phước (01); - PV06 - Công an tỉnh Bình Phước; - UBND xã M, huyện B, tỉnh Bình Phước; - Bị cáo; người tham gia tố tụng khác (01); - Lưu: HSVA, HS, VT. (03). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PH TÒA (Đã ký và đóng dấu) Vũ Hoàng Linh |