vanban.org

Bản án 25/2024/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Tây Ninh Tuyên án 15/03/2024 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 15/03/2024 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Đậu Văn Đ;

Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 03/2024/HS-ST ngày 09 tháng 01 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh. Xử phạt bị cáo Đậu Văn Đ 06 (sáu) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Đậu Văn Đ;
  • Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 321 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 25/2024/HS-PT
Ngày: 15-3-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Văn Ngầu.

Các Thẩm phán: 1. Ông Phạm Văn Tâm;

2. Ông Trần Thanh Tòng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Phước Hậu – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Trần Quốc Vương - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 03 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 28/2024/TLPT-HS ngày 19 tháng 02 năm 2024, do có kháng cáo của bị cáo Đậu Văn Đ đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 03/2024/HS-ST ngày 09 tháng 01 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh.

Bị cáo có kháng cáo:

Họ và tên: Đậu Văn Đ, sinh năm 1992 tại tỉnh Tây Ninh; nơi cư trú: ấp G, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không có; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đậu Văn C (đã chết) và bà Nguyễn Thị V, sinh năm 1967; vợ, con: chưa có; tiền sự: không có; tiền án: có 01 tiền án (tại Bản án hình sự sơ thẩm số 39/2021/HS-ST, ngày 19-5-2021 của Tòa án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Đậu Văn Đ 06 (sáu) tháng tù về tội “Đánh bạc”, đã chấp hành xong bản án ngày 19-7-2021, chưa được xóa án tích.

Nhân thân: Bản án số 83/2019/HS-ST, ngày 30-10-2019 của Tòa án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh xử phạt Đậu Văn Đ 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng về tội tội “Đánh bạc”, đã chấp hành xong bản án và được xóa án tích. Bị cáo có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 13 giờ 30 phút ngày 16-6-2023, Đậu Văn Đ và Đinh Văn T, sinh năm 1987; Võ Thành Đ1, sinh năm 1982; Trần Hoàng M, sinh năm 1988, cùng cư trú tại ấp B, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh và Nguyễn Thị Đ2, sinh năm 1987, ngụ ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh đến quán bán nước giải khát của chị Nguyễn Thị B, sinh năm 1988 tại ấp G, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh. Tại đây, Đ, M, T, Đ1 và Đ2 mua 02 bộ bài tây của chị B và cùng nhau đánh bài cào tố thắng, thua bằng tiền, quy định mức đặt cược mỗi ván là 20.000 đồng, tố mức cao nhất là 100.000 đồng, cụ thể như sau:

- Đậu Văn Đ mang theo số tiền 4.500.000 đồng, sử dụng 1.400.000 đồng để tham gia đánh bạc, đến khi bị bắt quả tang, Đ thua số tiền 1.050.000 đồng, bị tạm giữ 3.450.000 đồng.

- Trần Hoàng M mang theo số tiền 4.600.000 đồng, sử dụng 1.600.000 đồng để tham gia đánh bạc, đến khi bị bắt quả tang, Mua thắng được 350.000 đồng, bị tạm giữ số tiền 4.950.000 đồng.

- Đinh Văn T mang theo 700.000 đồng để tham gia đánh bạc, đến khi bị bắt quả tang, T thắng được 330.000 đồng, bị tạm giữ 1.030.000 đồng.

4. Võ Thành Đ1 mang theo số tiền 90.000 đồng để tham gia đánh bạc, đến khi bị bắt quả tang, Đ1 thua hết tiền.

5. Nguyễn Thị Đ2 mang theo số tiền 100.000 đồng để tham gia đánh bạc, đến khi bị bắt quả tang, Đ2 thua hết tiền.

Sòng bạc diễn ra đến 14 giờ 30 phút cùng ngày thì bị Công an xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh kiểm tra hành chính phát hiện lập biên bản vi phạm hành chính; thu giữ tại chiếu bạc 60.000 đồng và trên người của những người tham gia đánh bạc là 9.430.000 đồng, 02 bộ bài tây và một số vật chứng khác. Quá trình điều tra, cơ quan điều tra đã xác định tổng số tiền sử dụng vào mục đích đánh bạc của Đậu Văn Đ và những người tham gia đánh bạc là 3.890.000 đồng.

* Kết quả kê biên tài sản: qua xác minh tài sản bị cáo Đ không có tài sản riêng có giá trị, nên không tiến hành kê biên.

Tại bản Cáo trạng số 83/CT-VKSTB, ngày 20 tháng 11 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh truy tố bị cáo Đậu Văn Đ về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 03/2024/HS-ST ngày 09 tháng 01 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh, đã quyết định.

Tuyên bố bị cáo Đậu Văn Đ phạm tội “Đánh bạc”.

Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Đậu Văn Đ 09 (chín) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.

Ngoài ra, bản án còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo của bị cáo Đ theo quy định của pháp luật.

Ngày 15 tháng 01 năm 2024, bị cáo Đ có đơn kháng cáo xin được hưởng án treo để có điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng mẹ già và con nhỏ.

Tại phiên tòa:

- Bị cáo Đ giữ nguyên yêu cầu kháng cáo xin được hưởng án treo.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh trình bày quan điểm xử lý vụ án: Toà án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Đậu Văn Đ về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật. Mức hình phạt 09 tháng tù cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo Đ là tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội bị cáo gây ra, không nặng. Bị cáo kháng cáo xin được hưởng án treo, nhưng không cung cấp được tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới, nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo. Do đó, căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đ, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Bị cáo Đậu Văn Đ không có ý kiến tranh luận.

Lời nói sau cùng của bị cáo Đ: bị cáo nhận thấy hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật và rất hối hận, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng;

Toà án cấp sơ thẩm xét xử vụ án và tuyên án ngày 09-01-2024; ngày 15-01-2024, bị cáo Đ có đơn kháng cáo xin được hưởng án treo; đơn kháng cáo của bị cáo hợp lệ, phù hợp với quy định tại Điều 332 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự, nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

Tại cấp sơ thẩm bị cáo Đ không có khiếu nại đối với hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, do đó hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng tại cấp sơ thẩm đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi của bị cáo thể hiện.

Vào lúc 13 giờ 30 phút ngày 16-6-2023, tại nhà của chị Nguyễn Thị B thuộc ấp G, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh, bị cáo Đậu Văn Đ cùng với Đinh Văn T, Võ Thành Đ1, Trần Hoàng M và Nguyễn Thị Đ2 tham gia đánh bạc dưới hình thức đánh bài cào tố; đặt cược mỗi ván 20.000 đồng và tố với số tiền cao nhất là 100.000 đồng; sòng bạc hoạt động đến 14 giờ 30 phút thì bị lực lượng Công an xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh bắt quả tang. Tổng số tiền bị cáo Đ cùng với Đinh Văn T, Võ Thành Đ1, Trần Hoàng M và Nguyễn Thị Đ2 dùng vào mục đích đánh bạc là 3.390.000 đồng. Xét thấy bị cáo Đ đã bị kết án về tội “Đánh bạc”, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, do đó Toà án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Đ về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Vụ án mang tính chất ít nghiêm trọng, hành vi của bị cáo Đ là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự công cộng, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo đã 02 lần bị kết án về tội “Đánh bạc”, biết rõ hành vi đánh bạc trái phép thắng thua bằng tiền là vi phạm pháp luật, là phạm tội, nhưng vì muốn có thu nhập bất hợp pháp để thoả mãn nhu cầu cá nhân, bị cáo vẫn cố tình thực hiện, nên cần phải có hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo. Lần phạm tội này của bị cáo cần phải tiếp tục cách ly ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định, mới đủ điều kiện cải tạo, giáo dục bị cáo và đồng thời mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.

Xét kháng cáo của bị cáo Đậu Văn Đ, Hội đồng xét xử thấy rằng: bị cáo tham gia đánh bạc trái phép thắng, thua bằng tiền, sử dụng số tiền số tiền 1.400.000 đồng, đặt tụ mỗi ván 20.000 đồng, tố với số tiền không quá 100.000 đồng, tổng số tiền bị cáo và những người cùng tham gia đánh bạc chỉ có 3.390.000 đồng, mức hình phạt 09 tháng tù cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo là có phần nghiêm khắc, nên xét thấy cần chấp nhận một phần kháng cáo và giảm một phần mức hình phạt cho bị cáo.

Từ những phân tích trên, chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Đậu Văn Đ; chấp nhận một phần đề nghị của Kiểm sát viên; sửa bản án sơ thẩm.

Về án phí hình sự phúc thẩm: do kháng cáo được chấp nhận một phần nên bị cáo Đ không phải chịu.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, đã có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355 và điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Đậu Văn Đ;

Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 03/2024/HS-ST ngày 09 tháng 01 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh.

1. Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự:

Xử phạt bị cáo Đậu Văn Đ 06 (sáu) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.

2. Về án phí hình sự phúc thẩm: căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí tòa án. Bị cáo Đậu Văn Đ không phải chịu.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, đã có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm.

4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ