vanban.org

Bản án 25/2024/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Đồng Nai Tuyên án 15/01/2024 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 15/01/2024 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phan Đình Q;

Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số: 135/2023/HS-ST ngày 19-9-2023 của Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh. Tội danh và hình phạt: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phan Đình Q phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, theo điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi,…"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phan Đình Q;
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 260 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 25/2024/HS-PT
Ngày 15 - 01 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thành;

Các Thẩm phán:

Ông Trần Nam Phương;

Ông Dương Lê Bửu Thiện.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Linh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Phạm Quang Minh - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 436/2023/TLPT-HS ngày 23 tháng 10 năm 2023, đối với bị cáo Phan Đình Q; do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 135/2023/HS-ST ngày 19-9-2023 của Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh.

Bị cáo có kháng cáo: Phan Đình Q, sinh năm 1983 tại Bình Định; Căn cước công dân số: 0520830038XX; nơi đăng ký thường trú: Khu phố A, phường H, thị xã H, tỉnh Bình Định; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hóa (học vấn): 11/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan Văn C và bà Nguyễn Thị L; có vợ tên Lê Thị K và có 02 con; tiền án: Không; tiền sự: Không; hiện nay, bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú theo Lệnh số: 204/2023/LCĐKNCT ngày 12-12-2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai; vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

1. Nội dung chính:

Phan Đình Q, có giấy phép lái xe hạng FC số 520086003080, do Sở Giao thông vận tải tỉnh P cấp ngày 25/02/2022, lái xe thuê cho anh Phùng Minh S, ngụ tại phường H, thị xã H, tình B.

Ngày 18/12/2022, Q điều khiển xe ô tô đầu kéo mang biển số 77H - 019.4X kéo theo Sơ-mi-rơ-moóc biển số 77R - 038.8X lưu thông trên Quốc lộ A, hướng đi từ Bình Định vào Thành phố Hồ Chí Minh. Đến 16 giờ 33 phút cùng ngày, khi đến đoạn đường thuộc khu phố C, phường S, thành phố L, tỉnh Đồng Nai, Q cho xe chuyển làn từ làn đường dành cho xe ô tô sang làn đường hỗn hợp, để vượt xe ô tô đang đi phía trước; lúc này, trên đường có nhiều xe mô tô đang di chuyển cùng chiều; trong đó, có xe mô tô biển số 60B4- 684.0X do bà Nguyễn Thị H đang điều khiển phía trước. Do thiếu quan sát, Q không nhìn thấy xe mô tô của bà H và vẫn cho xe chuyển làn vào sát lề đường, nên xảy ra va chạm vào xe mô tô, làm bà H ngã xuống đường, bánh xe sau của Q cán qua người, bà H tử vong.

2. Hiện trường - Giám định:

1/ Tại Biên bản khám nghiệm hiện trường vụ tai nạn giao thông lúc 16 giờ 40 phút ngày 18/12/2022 và Sơ đồ hiện trường, do Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố L lập, theo hướng Bình Thuận đi Thành phố Hồ Chí Minh, xác định như sau:

- Nơi xảy ra tai nạn là đường Q, có dãy phân cách cứng, chia mặt đường thành 2 chiều đi riêng biệt, mỗi làn có chiều rộng mặt đường là 7,4 m, đường dốc.

- Lấy mép đường bên phải tính theo hướng Bình Thuận đi Thành phố Hồ Chí Minh làm chuẩn, lấy bảng Km 1827 làm mốc.

- Vết cày xe mô tô 60B4- 684.0X để lại trên mặt đường đứt quãng, không liên tục, có chiều dài 10,5 m, đầu vết cày vào mép đường 0,75 m, cuối vết cày vào mép đường là 0,3 m.

- Vị trí xe mô tô biển số 60B4- 684.0X sau tai nạn ngã nghiêng bên trái, trục bánh xe trước cách mép đường 00 m, trục bánh xe sau cách mép đường 0,15 m.

- Xe ô tô đầu kéo biển số 77H - 019.4X kéo theo Sơ-mi-rơ-moóc biển số 77R - 038.8X, đầu hướng về Thành phố Hồ Chí Minh, trục bánh trước xe đầu kéo cách mép đường 0,56 m, trục bánh sau của S1-mi-rơ-moóc cách mép đường 1,1 m.

- Nạn nhân nằm nghiêng đầu hướng ra đường cách mép đường 1,75 m, chân hướng vào mép đường và nằm sát mép đường, chân nạn nhân cách trục bánh xe mô tô là 0,25 m.

2/ Tại Biên bản khám nghiệm phương tiện liên quan đến tai nạn giao thông lúc 09 giờ 00 phút ngày 19/12/2022, do Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố L lập, đối với xe ô tô đầu kéo biển số 77H - 019.4X kéo theo Sơ-mi-rơ-moóc biển số 77R - 038.8X, có các dấu vết chính liên quan đến vụ tai nạn như sau:

- Dè chắn bùn của bánh xe bên phải, bánh cuối rơ-moóc dính chất nhầy nghi là mô mỡ.

- Cản xe phía trước, bên phải dính chất nhày nghi là mô mỡ.

- Ốc khớp nối thanh bảo vệ bên phải ở giữa S-mi-rơ-moóc có dấu vết trượt cách đất 100 cm, tại thanh bảo vệ phía trên có dính vết sơn màu đen, kích thước 0,3 x 0,3 m, cách đất 90 cm.

3/ Tại Biên bản khám nghiệm phương tiện liên quan đến tai nạn giao thông lúc 08 giờ 30 phút ngày 19/12/2023, do Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố L lập đối với xe mô tô biển số 60B4 - 684.0X, có các dấu vết chính trên phương tiện như sau:

- Gương chiếu hậu bên trái, rời khỏi xe; mặt nạ phía trước bị nứt vỡ; vè chắn bùn phía trước bị chà bào mòn, kích thước 05 x 07 cm.

- Tay thắng trước bị chà bào mòn; Áo đầu xe bên trái có vết trầy xước kích thước 8 cm, cách đất 80 cm.

4/ Tại Bản kết luận giám định tư pháp số: 247/TTĐKXCG ngày 04/01/2023 của Trung tâm Đăng kiểm xe cơ giới thuộc Sở Giao thông Vận tải tỉnh Đ, đối với xe đầu kéo mang biển số 77H - 019.4X kéo theo Sơ-mi-rơ-moóc biển số 77R - 038.8X và xe mô tô biển số 60B4 - 684.0X, kết luận: Cả 02 xe đạt an toàn kỹ thuật và đủ điều kiện để tham gia lưu thông.

5/ Tại Kết luận giám định số: 42/KL-KTHS ngày 18/01/2023 của Phòng K1 - Công an tỉnh Đ, kết luận:

- Không phát hiện dấu vết va chạm giữa xe ô tô mang biển số 77H-019.4X kéo theo Sơ-mi-rơ-moóc biển số 77R-038.8X với xe mô tô mang biển số 60B4-684.0X trong quá trình xảy ra sự việc.

- Dấu vết trượt xước, nứt vỡ, mài mòn tại các chi tiết bên trái: Vè chắn bùn, kính chiếu hậu, đầu tay cầm lái, đầu tay thắng, mặt nạ, yếm chắn gió, bệ gác chân trước cùng ốp lốc máy của xe mô tô mang biển số 60B4 - 684.0X có chiều từ trái qua phải; phù hợp va chạm mặt đường.

6/ Tại Kết luận giám định số: 591/KL-KTHS ngày 25/05/2022 của Phân viện Khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh, kết luận: Tốc độ hiển thị của phương tiện gắn thiết bị giám sát hành trình gửi giám định tại thời điểm ngay trước khi xảy ra và chạm (thời gian hiển thị 16 giờ 33 phút 36 giây ngày 18/12/2022) là 54 km/h (kilomet/giờ).

7/ Tại Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số: 2741/KL-KTHS ngày 16/02/2023 của Phòng K1 - Công an tỉnh Đ, kết luận nguyên nhân tử vong của nạn nhân Nguyễn Thị H như sau: Đa chấn thương. Chấn thương sọ não hở và hàm mặt; vỡ phức tạp toàn bộ xương hộp sọ và nền sọ; rách màng não cứng, dập xuất huyết não toàn bộ. Gãy xương sườn hai bên và xương ức phức tạp.

3. Vật chứng:

- Các phương tiện cơ giới đường bộ nêu trên, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố L đã trả lại cho chủ sở hữu.

- 01 giấy phép lái xe ô tô hạng FC mang tên Phan Đình Q.

4. Dân sự:

Quá trình điều tra, Phan Đình Q và chủ xe đã tự nguyện hỗ trợ và bồi thường số tiền 250.000.000 đồng; người đại diện hợp pháp cho bị hại có đơn “bãi nại” cho Phan Đình Q.

5. Quyết định của cấp sơ thẩm:

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 135/2023/HS-ST ngày 19-9-2023 của Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh, đã quyết định:

- Tuyên bố bị cáo Phan Đình Q phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, theo điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Xử phạt bị cáo 01 (một) năm tù.

- Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về hình phạt bổ sung, tiếp tục tạm giữ giấy phép lái xe, án phí hình sự sơ thẩm và quyền kháng cáo theo luật định.

6. Kháng cáo:

Trong thời hạn luật định, bị cáo Phan Đình Q kháng cáo, đề nghị giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo.

7. Quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tại phiên tòa phúc thẩm:

Kiểm sát viên đã đánh giá, phát biểu quan điểm xử lý vụ án; xác định Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Phan Đình Q theo tội danh và điều luật bản án sơ thẩm đã nêu là có căn cứ, đúng người, đúng tội. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo không có tình tiết giảm nhẹ nào mới; đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng:

Bị cáo Phan Đình Q được tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng nhưng vắng mặt tại phiên tòa. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 351 của Bộ luật Tố tụng hình sự, vẫn tiến hành xét xử vụ án.

Về tội danh:

Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở xác định Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Phan Đình Q phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, theo điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ và đúng pháp luật.

Về kháng cáo:

3.1. Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

3.2. Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Tại cấp sơ thẩm: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã bồi thường xong cho gia đình bị hại. Bị cáo có nhân thân tốt, hoàn cảnh khó khăn; người đại diện hợp pháp của bị hại có đơn “bãi nại” cho bị cáo. Áp dụng quy định tại điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

- Tại cấp phúc thẩm: Bị cáo cung cấp đơn, được chính quyền địa phương xác nhận, thể hiện bị cáo là lao động chính và hoàn cảnh gia đình rất khó khăn.

3.3. Về hình phạt:

Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá toàn diện vụ án, bị cáo phạm tội với lỗi hoàn toàn, việc cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo Phan Đình Q mức án 01 (một) năm tù là phù hợp và đã xem xét giảm nhẹ. Tại cấp phúc thẩm, bị cáo có cung cấp đơn nêu trên nhưng tình tiết này đã được Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng, nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo.

3.4. Về vật chứng:

Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng hình phạt bổ sung cấm hành nghề lái xe và tiếp tục tạm giữ giấy phép lái xe của bị cáo; tuy nhiên, không chuyển tài liệu này đến Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Khánh mà lưu trong hồ sơ vụ án là không phù hợp; do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm xử lý phần vật chứng này vào bản án.

Về án phí:

Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; áp dụng Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; bị cáo Phan Đình Q phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Chấp nhận quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tại phiên tòa phúc thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1, 2 Điều 355 và Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phan Đình Q;

Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số: 135/2023/HS-ST ngày 19-9-2023 của Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh.

1. Tội danh và hình phạt:

Áp dụng điểm a khoản 1, 5 Điều 260; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);

- Xử phạt bị cáo Phan Đình Q 01 (một) năm tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Thời hạn tù tính từ ngày người bị kết án Phan Đình Q vào cơ sở giam giữ chấp hành án phạt tù.

- Cấm bị cáo Phan Đình Q hành nghề lái xe 01 (một) năm, tính từ ngày chấp hành xong hình phạt tù.

2. Về vật chứng:

Chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Khánh 01 (một) Giấy phép lái xe số: 520086003080, hạng FC, do Sở Giao thông vận tải tỉnh P cấp ngày 25-02-2022 cho Phan Đình Q.

Sau khi bị cáo Phan Đình Q chấp hành xong hình phạt tù và hình phạt bổ sung nêu trên, Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Khánh trả lại cho bị cáo Phan Đình Q giấy phép lái xe nêu trên.

3. Về án phí: Bị cáo Phan Đình Q phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.

4. Quyết định của bản án sơ thẩm về án phí hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ