vanban.org

Bản án 25/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa bà Đỗ Thị Thu H và ông Nguyễn N.

Về con chung: Giao con chung Nguyễn Thu H, sinh ngày 23 tháng 02 năm 2007 cho N trực tiếp nuôi dưỡng và giao con chung Nguyễn Thị Thu H, sinh ngày 07 tháng 8 năm 2012 cho bà Đỗ Thị Thu H trực tiếp nuôi dưỡng. Thời hạn nuôi con tính ngày bản án này có hiệu lực pháp luật cho đến khi mỗi con chung đủ 1… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "bà Hương ly hôn ông Nam"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa bà Đỗ Thị Thu H và ông Nguyễn N.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN AN DƯƠNG
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 25/2024/HNGĐ-ST
Ngày 05-3-2024
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con
khi ly hôn

NHÂN DÔNG

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN DƯƠNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Liên

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Đỗ Văn Thư

2. Ông Đỗ Thế Anh

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị H - Thư ký Toà án nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Vũ Thị Hà - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 3 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 02/2024/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 01 năm 2024 về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 15/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 02 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Đỗ Thị Thu H; Địa chỉ: thị trấn A, huyện A, thành phố Hải Phòng; Có mặt.

- Bị đơn: Ông Nguyễn N; địa chỉ: Thôn D, xã Đ, huyện A, thành phố Hải Phòng; Có mặt.

NỘI H VỤ ÁN:

Trong Đơn khởi kiện ngày 12 tháng 12 năm 2023, quá trình tố tụng và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Đỗ Thị Thu H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà kết hôn với ông Nguyễn N trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Đặng Cương, huyện An Dương, thành phố Hải Phòng vào ngày 21 tháng 4 năm 2006. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại thôn D, xã Đ, huyện A, thành phố Hải Phòng. Quá trình chung sống vợ chồng hạnh phúc vui vẻ đến năm 2022 thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, do N cờ bạc dẫn đến kinh tế gia đình bị ảnh hưởng nên từ đó mâu thuẫn vợ chồng phát sinh. Do mâu thuẫn vợ chồng căng thẳng nên bà và N đã sống ly thân từ tháng 8/2023, không ai quan tâm và có trách nhiệm với ai. Nay bà xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng không thể đoàn tụ được nên bà đề nghị Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Nguyễn N.

Về con chung: Bà và ông Nguyễn N có hai con chung là Nguyễn Thu H, sinh ngày 23 tháng 02 năm 2007 và Nguyễn Thị Thu H, sinh ngày 07 tháng 8 năm 2012. Ly hôn bà đề nghị Tòa án giao hai con chung cho bà trực tiếp nuôi dưỡng, bà không đồng ý giao con cho N nuôi dưỡng vì các con đều là con gái và đều có nguyện vọng được ở với bà.

Về cấp dưỡng: Bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại các bản tự khai, quá trình tố tụng và tại phiên tòa bị đơn ông Nguyễn N trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn N xác định lời khai của bà Đỗ Thị Thu H về điều kiện, thời gian kết hôn và quá trình chung sống là đúng. Trong cuộc sống chung giữa tôi và bà H từ khi kết hôn đến khoảng hai năm gần đây mới xẩy ra mâu thuẫn, còn trước năm 2022 thì vợ chồng không xẩy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân vợ chồng xẩy ra mâu thuẫn cãi nhau là do giữa tôi và bà H không có tiếng nói chung trong việc quản lý kinh tế của gia đình nên vợ chồng mới xảy ra mâu thuẫn. Nếu bà H ký các giấy tờ liên quan đến tài sản và nợ của vợ chồng cho ông để ông giải quyết thì tôi sẽ đồng ý ly hôn với bà H.

Về con chung: Ông và bà Đỗ Thị Thu H có hai con chung là Nguyễn Thu H và Nguyễn Thị Thu H như bà H trình bày. Quá trình giải quyết vụ án đến trước khi mở phiên tòa ông có quan điểm đề nghị Tòa án giao con chung Nguyễn Thị Thu H cho ông trực tiếp nuôi dưỡng và giao con chung Nguyễn Thu H cho ông nuôi dưỡng. Tại phiên tòa N thay đổi quan điểm, ông đồng ý giao hai con Nguyễn Thu H và Nguyễn Thị Thu H cho bà H nuôi dưỡng vì hai con đều có nguyện vọng được ở với bà H. Về cấp dưỡng nuôi con: Ông không yêu cầu Tòa án giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Ông không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện An Dương phát biểu ý kiến:

- Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và đương sự đã chấp hành đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về nội H: Căn cứ khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 của Bộ luật Dân sự; các điều 51, 55, 58, 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình đề nghị Hội đồng xét xử: Về quan hệ hôn nhân: Xử cho bà Đỗ Thị Thu H được ly hôn ông Nguyễn N. Về con chung: Nguyễn Thu H, sinh ngày 23 tháng 02 năm 2007 và Nguyễn Thị Thu H, sinh ngày 07 tháng 8 năm 2012cho bà Đỗ Thị Thu H trực tiếp nuôi dưỡng sau ly hôn. Về tài sản và việc cấp dưỡng nuôi con: Không xem xét, giải quyết. Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Đỗ Thị Thu H khởi kiện ly hôn đối với ông Nguyễn N, đây là vụ án tranh chấp hôn nhân và gia đình được quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Ông Nguyễn N hiện đang cư trú tại huyện An Dương, thành phố Hải Phòng nên theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng.

Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ lời khai của các đương sự, tài liệu, chứng cứ do đương sự cung cấp và do Tòa án thu thập, đủ cơ sở xác định: Bà Đỗ Thị Thu H và ông Nguyễn N kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn vào ngày 21 tháng 4 năm 2006 tại Ủy ban nhân dân xã Đặng Cương, huyện An Dương, thành phố Hải Phòng. Như vậy, theo quy định tại Điều 8 và Điều 9 của Luật Hôn nhân và Gia đình thì quan hệ hôn nhân của bà Đỗ Thị Thu H và ông Nguyễn N là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, không có sự tin tưởng

vợ chồng không có sự chia sẻ với nhau, do mâu thuẫn nên bà H và N đã sống ly thân từ tháng 8/2023 cho đến nay không ai còn quan tâm và có trách nhiệm với ai. Xét thấy, tình trạng hôn nhân của bà H và N đã mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, việc N không đồng ý ly hôn không phải xuất phát từ tình cảm do vậy yêu cầu ly hôn của bà H là có căn cứ chấp nhận theo quy định tại Điều 51, 56 của của Luật Hôn nhân và Gia đình.

Về con chung: Bà Đỗ Thị Thu H và ông Nguyễn N có hai con chung là Nguyễn Thu H, sinh ngày 23 tháng 02 năm 2007 và Nguyễn Thị Thu H, sinh ngày 07 tháng 8 năm 2012. Bà Đỗ Thị Thu H và ông Nguyễn N có tranh chấp về người trực tiếp nuôi con sau ly hôn. Xét, bà H và N đều có công viêc và thu nhập ổn định, đều được gia đình tạo điều kiện về chỗ ở và giúp đỡ trong việc chăm sóc các con nên đánh giá điều kiệu về kinh tế và chỗ ở của bà H và N là ngang nhau. Tuy các con đều có nguyện vợn ở với bà H nhưng con chung Nguyễn Thu H hiện đang học cấp 3 cũng có thể tự chăm sóc bản thân, con chung Nguyễn Thị Thu H còn nhỏ nên giao con chung Nguyễn Thu H cho N nuôi dưỡng và giao con chung Nguyễn Thị Thu H cho bà H nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại khoản 1, 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Về cấp dưỡng: Bà Đỗ Thị Thu H và ông Nguyễn N đều có quan điểm không yêu cầu giải quyết nên không xem xét, giải quyết.

Về tài sản chung: Bà Đỗ Thị Thu H và ông Nguyễn N đều có quan điểm không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét, giải quyết.

Về án phí: Bà Đỗ Thị Thu H và ông Nguyễn N phải bàu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn pháp luật quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 4 Điều 147; Điều 39 của Bộ luật Dân sự; các điều 51, 56, 58, 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 6 và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa bà Đỗ Thị Thu H và ông Nguyễn N.

2. Về con chung: Giao con chung Nguyễn Thu H, sinh ngày 23 tháng 02 năm 2007 cho N trực tiếp nuôi dưỡng và giao con chung Nguyễn Thị Thu H, sinh ngày 07 tháng 8 năm 2012 cho bà Đỗ Thị Thu H trực tiếp nuôi dưỡng. Thời hạn nuôi con tính ngày bản án này có hiệu lực pháp luật cho đến khi mỗi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về việc cấp dưỡng và tài sản: Không giải quyết.

4. Về án phí: Bà Đỗ Thị Thu H và phải bàu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm sơ thẩm để nộp ngân sách Nhà nước. Số tiền án phí bà Đỗ Thị Thu H phải nộp được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí bà H đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0008342 ngày 05 tháng 01 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Dương, thành phố Hải Phòng.

5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn và bị đơn có mặt, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.

6. Về quyền yêu cầu thi hành án: Trong trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ