vanban.org

Bản án 25/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Xử cho chị Cố Thị T được ly hôn với anh Lê Văn T1.

Về con chung: Chị Cố Thị T và anh Lê Văn T1 có 01 (một) con chung là cháu Lê Đại D, sinh ngày 22/11/2020. Giao con chung là cháu Lê Đại D cho chị Cố Thị T được quyền trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; Anh Lê Văn T1 không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Anh Lê Văn T1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "LY HÔN"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Xử cho chị Cố Thị T được ly hôn với anh Lê Văn T1.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THỌ XUÂN
TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 25/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 02 - 02 - 2024
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỌ XUÂN, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Minh Tiến

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lê Đăng Thiện

2. Ông Nguyễn Văn Sâm

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Sơn - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên toà: Ông Phạm Xuân Long - Kiểm sát viên.

Ngày 02 tháng 02 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân; Xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 303/2023/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 11 năm 2023 về "ly hôn, tranh chấp về nuôi con", theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 57/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 12 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 01/2023/QĐST-HNGĐ ngày 15 tháng 01 năm 2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Cố Thị T, sinh năm 1995, địa chỉ: Thôn D, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Có mặt.

- Bị đơn: Anh Lê Văn T1, sinh năm 1990, địa chỉ: Khu phố F, thị trấn S, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Vắng mặt (Vắng mặt không có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 02 tháng 10 năm 2023, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn là chị Cố Thị T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh T1 tự nguyện tìm hiểu, lấy

nhau có tổ chức cưới theo phong tục và đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện T vào ngày 09/3/2020. Sau khi kết hôn thời gian đầu vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc. Tuy nhiên, từ khi chị mang thai thì tình cảm không còn hạnh phúc mà đã phát sinh nhiều mâu thuẫn, do vợ chồng bất đồng quan điểm trong sinh hoạt gia đình về vấn đề kinh tế và công việc, nên vợ chồng hay xảy ra cãi vã. Từ thời điểm chị sinh con thì mâu thuẫn vợ chồng càng trở nên trầm trọng, do áp lực tâm lý nên chị đã chuyển về nhà bố mẹ đẻ chị để ở và nuôi con; còn anh T1 vẫn ở nhà bố mẹ đẻ anh T1 và đi làm ăn ở xa thi thoảng mới về qua thăm con, nên vợ chồng đã ly thân đến nay. Mặc dù có được gia đình hai bên khuyên bảo vợ chồng hàn gắn tình cảm, nhưng tình cảm vợ chồng vẫn không được cải thiện. Nay chị xác định không còn tình cảm vợ chồng, nên chị đề nghị giải quyết cho chị được ly hôn.

Về con chung: Chị T xác định vợ chồng có 01 con chung là cháu Lê Đại D, sinh ngày 22/11/2020, con hiện nay đang ở với chị. Ly hôn nguyện vọng của chị là xin được trực tiếp nuôi con chung; chị không yêu cầu anh T1 phải cấp dưỡng. Tại phiên tòa chị T trình bày hiện tại chị đang ở nhà mở của hàng kinh doanh Trà sửa, cà phê với thu nhập hàng tháng đảm bảo được điều kiện kinh tế để nuôi con.

Về tài sản và công nợ: Chị T xác định vợ chồng không có gì, nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn là anh Lê Văn T1 đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, nhưng không đến Tòa án làm việc, vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án, nên Tòa án không lấy được lời khai.

Tại biên bản xác minh lập ngày 26/12/2023, đại diện UBND thị trấn S cho biết: Chị Cố Thị T và anh Lê Văn T1 có quan hệ là vợ chồng, đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện T vào ngày 09/3/2020. Qúa trình chung sống vợ chồng có 01 con chung là cháu Lê Đại D, sinh ngày 22/11/2020, con hiện đang ở với chị T. Về nguyên nhân mâu thuẫn giữa vợ chồng địa phương không nắm bắt được do gia đình không báo cáo và không yêu cầu hòa giải ở cơ sở. Hiện nay anh T1 ở địa phương và đang đi làm ăn xa; còn chị T đã về nhà bố mẹ đẻ ở.

Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến, như sau:

I. Về việc tuân theo pháp luật tố tụng:

1. Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán: Đã thực hiện đúng, đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

2. Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa: Đã thực hiện đúng, đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

3. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; Bị đơn vắng mặt không có lý do trong suốt quá trình giải quyết vụ án.

II. Về quan điểm giải quyết vụ án: Sau khi phân tích nội dung vụ án, đại diện Viện kiểm sát đề nghị: Áp dụng: Điều 51, 56, 57, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 28, 35, khoản 4 Điều 147, Điều 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

- Về hôn nhân: Chấp nhận cho chị Cố Thị T được ly hôn với anh Lê Văn T1.

- Về con chung: Giao con chung là cháu Lê Đại D, sinh ngày 22/11/2020 cho chị Cố Thị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; Anh Lê Văn T1 có quyền thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở. Anh Lê Văn T1 không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Các đương sự có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn theo quy định của pháp luật.

- Về tài sản, công nợ: Không xem xét.

- Về án phí: Buộc chị Cố Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp.

- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa và ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Chị Cố Thị T khởi kiện đề nghị giải quyết xin được ly hôn với anh Lê Văn T1, cư trú tại: Khu phố F, thị trấn S, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, xác định vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân.

Qúa trình giải quyết vụ án, bị đơn là anh Lê Văn T1 đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng; Tại phiên tòa hôm nay bị đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, nên căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

Về quan hệ hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa chị Cố Thị T và anh Lê Văn T1 là hôn nhân hợp pháp, anh chị tự nguyện kết hôn, đã được Ủy ban nhân dân xã T cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 09/3/2020. Trong quá trình chung sống với nhau, tình cảm giữa vợ chồng chỉ hòa thuận, hạnh phúc được thời gian ngắn. Từ sau khi sinh con giữa vợ chồng đã phát sinh nhiều mâu thuẫn tình cảm, do bất đồng trong sinh hoạt gia đình, giữa vợ chồng không có sự tin tưởng, tôn trọng và chia sẻ với nhau về vấn đề kinh tế, công việc, cũng như sinh hoạt gia đình, nên đã thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cãi vã và xúc phạm nhau. Hiện nay vợ chồng đã ly thân. Qúa trình giải quyết vụ án, chị T một mực đề nghị Tòa án giải quyết xin được ly hôn, còn anh T1 đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, biết được Tòa án đang thụ lý giải quyết quan hệ hôn nhân giữa vợ chồng, nhưng không đến Tòa án làm việc để trình bày quan điểm, cũng như tham gia các phiên hòa giải và phiên tòa, điều đó thể hiện anh T1 không có thiện chí hàn gắn mối quan hệ hôn nhân giữa vợ chồng. Do đó, có đủ cơ sở xác định: Quan hệ hôn nhân giữa chị T và anh T1 đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, nên căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu giải quyết ly hôn của chị T, xử cho chị Cố Thị T được ly hôn với anh Lê Văn T1.

Về con chung: Chị Cố Thị T và anh Lê Văn T1 có 01 con chung là cháu Lê Đại D, sinh ngày 22/11/2020.

Xét nguyện vọng xin được nuôi con chung của chị T, thấy rằng: Thực tế hiện nay con chung là cháu D đang còn nhỏ và hiện đang ở ổn định với chị T, được chị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng tốt. Quá trình giải quyết vụ án, chị T đã chứng minh được các điều kiện để nuôi con, trong khi anh T1 không đến Tòa án làm việc, không trình bày ý kiến về nuôi con chung. Do đó, để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con, cần thiết giao con chung cho chị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp. Về cấp dưỡng nuôi con: Chị T không yêu cầu anh T1 phải cấp dưỡng nuôi con chung, xét đây là sự tự nguyện của chị T và phù hợp với quy định của pháp luật, nên được chấp nhận. Do đo, anh T1 không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về phần tài sản và công nợ: Chị Cố Thị T không yêu cầu Tòa án giải quyết; anh T1 không có lời khai trong hồ sơ. Do đó, không xem xét.

Về án phí: Chị Cố Thị T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vê quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

1. Về hôn nhân: Xử cho chị Cố Thị T được ly hôn với anh Lê Văn T1.

2. Về con chung: Chị Cố Thị T và anh Lê Văn T1 có 01 (một) con chung là cháu Lê Đại D, sinh ngày 22/11/2020.

Giao con chung là cháu Lê Đại D cho chị Cố Thị T được quyền trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; Anh Lê Văn T1 không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Anh Lê Văn T1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.

3. Về tài sản và công nợ: Không xem xét.

4. Về án phí: Chị Cố Thị T phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng, chị T đã nộp, theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: AA/2021/0016406 ngày 08/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thọ Xuân. Như vậy, chị Cố Thị T đã nộp đủ tiền án phí.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ