vanban.org

Bản án 25/2023/HSST — Hình sự

TAND TP. PLeiku, tỉnh Gia Lai Tuyên án 17/02/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Trường H - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ PLEIKU
TỈNH GIA LAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 25/2023/HSST
Ngày 17 -02-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PLEIKU, TỈNH GIA LAI

- Thành phần Hội đồng kxét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Nhàn

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Quang Vinh

2. Bà Nguyễn Thị Hiên

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Ngọc Hà - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thắng Trinh - Kiểm sát viên

Ngày 17 tháng 02 năm 2023, tại: Trụ sở Tòa án Nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 195/2022/TLST-HS ngày 25 tháng 11 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 220/2022/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 12 năm 2022 đối với bị cáo:

Họ và tên: NGUYỄN TRƯỜNG H, sinh năm 2001, tại Gia Lai. Giới tính: Nam. Nơi cư trú: Hẻm 114 đường T, Tổ 9, phường P, thành phố P, tỉnh G. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Buôn bán. Cha: Nguyễn Thượng Trường S - sinh năm 1976. Mẹ: Võ Thị T-sinh năm 1978.

Cha của bị cáo hiện trú tại: Tổ 8, phường T, thành phố P, tỉnh G; mẹ của bị cáo hiện trú tại: Hẻm 114 đường T, Tổ 9, phường P, thành phố P, tỉnh G.

Bị cáo có 02 anh, em ruột (lớn nhất sinh năm 1997, nhỏ nhất sinh năm 2008). Bị cáo chưa có vợ con.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo NGUYỄN TRƯỜNG H bị tạm giữ từ ngày 30/6/2022, sau đó bị tạm giam cho đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Pleiku. Có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

Bà Võ Thị T, sinh năm 1978; địa chỉ: Hẻm 114 T, Tổ 9, phường P, thành phố P, tỉnh G. Có mặt.

- Người chứng kiến:

Ông Bùi Văn N, sinh năm 1958; địa chỉ: Tổ 9, phường P, thành phố P, tỉnh

G. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

NGUYỄN TRƯỜNG H là người có sử dụng chất ma túy khoảng thời gian từ tháng 6/2022. Thông qua mối quan hệ xã hội, H có biết đối tượng tên K (không rõ nhân thân, lai lịch) là người bán ma túy. Vào khoảng 17 giờ 45 phút, ngày 01/6/2022, H đón xe taxi (không rõ hãng xe và họ tên, lai lịch của người lái xe) chở đến quán Pub Bờ Kè tại Tổ 07, phường H, thành phố P, tỉnh G, để chơi và nghe nhạc. Khoảng 20 giờ cùng ngày, thì H ra khỏi quán để đón xe taxi; khi đi bộ cách quán Pub Bờ Kè khoảng 20 mét thì H gặp Kiều nên H đã mua của Kiều 08 gói ma túy Khay và 08 viên ma túy kẹo, với giá 10.000.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, H mang về cất giấu trong hộc tủ quần áo tại phòng ngủ của H ở hẻm 114, đường T, Tổ 09, phường P, thành phố P, tỉnh G, với mục đích để sử dụng. Vào khoảng 21 giờ ngày 23/6/2022, tại phòng ngủ H đã lấy gói ma túy Khay ra trích một ít sử dụng; số ma túy còn lại, H tiếp tục cất giấu tại hộc tủ quần áo để sử dụng dần. Đến 15 giờ 45 phút, ngày 30/6/2022, khi H đang ở tại nhà thì bị lực lượng Cảnh sát điều tra tội phạm về Ma tuý Công an thành phố Pleiku phối hợp lực lượng Cảnh sát điều tra tội phạm về Ma túy Công an tỉnh G bắt quả tang cùng vật chứng, gồm: 01 hộp sắt màu đỏ bên trong có 08 gói nilon chứa chất màu trắng dạng tinh thể; 01 gói nilon chứa 08 viên nén màu trắng xám (được niêm phong theo quy định); 01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone màu xanh kèm sim số (mặt sau sim có dãy số 8984 04800 00566 84736). Ngoài ra, Cơ quan điều tra còn thu giữ tại nền nhà góc phòng ngủ của H: 01 đĩa sứ màu trắng đường kính 18cm và 01 tờ tiền polyme mệnh giá 20.000 đồng tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam được cuộn tròn đều bám dính chất màu trắng (được niêm phong theo quy định).

Bị cáo NGUYỄN TRƯỜNG H đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

2. Các vấn đề khác:

Qua giám định, tại bản Kết luận giám định số 452/KLGĐ ngày 09/7/2022 của phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh G, kết luận:“Toàn bộ chất màu trắng, dạng tinh thể trong 08 (tám) gói nilon trong bì công văn niêm phong, gửi đến giám định là ma túy, loại Ketamine, khối lượng 7,9230 gam; 08 (tám) viên nén màu trắng xám trong 01 (một) gói nilon trong bì công văn niêm phong gửi giám định là ma túy, loại MDMA, khối lượng 3,6060 gam; Chất màu trắng bám dính trên đĩa sứ và trên tờ tiền mệnh giá 20.000 đồng trong hộp niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Ketamine, do lượng mẫu ít không cân được khối lượng”.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận nêu trên.

3. Cáo trạng của Viện kiểm sát:

Bản cáo trạng số: 203/CT-VKS ngày 25-11-2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai đã truy tố bị cáo NGUYỄN TRƯỜNG H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm n khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo NGUYỄN TRƯỜNG H và đề nghị Hội đồng xét xử:

Về hình sự:

Tuyên bố bị cáo NGUYỄN TRƯỜNG H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Đề nghị áp dụng điểm n khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 50 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Xử phạt bị cáo NGUYỄN TRƯỜNG H với mức án từ 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù đến 06 (sáu) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 30/6/2022.

Về vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 và căn cứ khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Đối với 01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone màu xanh kèm thẻ sim có dãy 8984048000056684736. Đây là tài sản của bị cáo H, không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo.

Tịch thu sung Ngân quỹ Nhà nước 01 tờ tiền polyme mệnh giá 20.000đồng (Hai mươi nghìn đồng) tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.

Tịch thu tiêu hủy 01 bì công văn ghi số 452/PC09 ngày 09/7/2022 có dấu niêm phong của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Gia Lai (có các chữ ký của Nguyễn Đại Hải, Trần Minh Duy, Nguyễn Minh Tâm).

Tịch thu tiêu hủy 01 (một) hộp sắt đỏ (đã qua sử dụng); 01 đĩa sứ màu trắng đường kính 18cm (đĩa đã qua sử dụng) là công cụ sử dụng trái phép chất ma túy của bị cáo H.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo nhất trí với quyết định truy tố của Viện kiểm sát.

Lời nói sau cùng của bị cáo trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án:

Bị cáo thấy việc làm của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo rất hối hận vì việc làm của mình, kính mong Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai; Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc có khiếu nại về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi bị truy tố của bị cáo:

Xét thấy lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên toà hôm nay, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ căn cứ để kết luận bị cáo NGUYỄN TRƯỜNG H phạm tội như sau:

NGUYỄN TRƯỜNG H là người sử dụng chất ma túy. Vào khoảng 20 giờ ngày 01/6/2022, tại Tổ 7, phường H, thành phố P, tỉnh G, H đã mua của đối tượng tên Kiều (không rõ nhân thân, lai lịch) 08 gói ma túy (loại Ketamine) và 08 viên ma tuý (loại MDMA) với giá 10.000.000 đồng. Sau đó, H mang số ma tuý này về cất giấu trong phòng ngủ của H, tại nhà ở hẻm 114, đường T, Tổ 09, phường P, thành phố P, tỉnh G, với mục đích để sử dụng. Vào khoảng 21 giờ, ngày 23/6/2022, H lấy 01 ít ma túy Khay ra để sử dụng; số ma túy còn lại, H cất giấu tại phòng để sử dụng dần. Đến 15 giờ 45 phút, ngày 30/6/2022, khi H đang ở nhà thì bị lực lượng Cảnh sát điều tra tội phạm về Ma tuý Công an thành phố Pleiku bắt quả tang cùng toàn bộ vật chứng.

Qua giám định, xác định: Số ma tuý mà NGUYỄN TRƯỜNG H tàng trữ để sử dụng gồm: 7,9230 gam Ketamine và 3,6060 gam MDMA.

Tại khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định:

“ 2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:

a) Có tổ chức;

b) Phạm tội 02 lần trở lên;

c) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

d) Lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

đ) Sử dụng người dưới 16 tuổi vào việc phạm tội;

e) Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có khối lượng từ 500 gam đến dưới 01 kilôgam;

g) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 05 gam đến dưới 30 gam;

h) Lá cây côca, lá khát (lá cây Catha edulis); lá, rễ, thân, cành, hoa, quả, của cây cần sa hoặc bộ phận của cây khác có chứa chất ma túy do Chính phủ quy định có khối lượng từ 10 kilôgam đến dưới 25 kilôgam;

i) Quả thuốc phiện khô có khối lượng từ 50 kilôgam đến dưới 200 kilôgam.

k) Quả thuốc phiện tươi có khối lượng từ 10 kilôgam đến dưới 50 kilôgam.

l) Các chất ma túy khác ở thể rắn có khối lượng từ 20 gam đến dưới 100 gam;

m) Các chất ma tuý khác ở thể lỏng có thể tích từ 100 mililít đến dưới 250 mililít;

n) Có 02 chất ma tuý trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma tuý quy định tại một trong các điểm từ điểm e đến điểm m khoản này;

…”.

Ma tuý là chất độc, có nguồn gốc tự nhiên hoặc tổng hợp, khi vào cơ thể con người có tác dụng làm thay đổi trạng thái ý thức và tâm sinh lý của con người, làm hạn chế hoạt động của não bộ và gây ức chế hệ thần kinh. Sự nghiện ngập là biểu hiện của trạng thái ngộ độc mãn tính do chất ma tuý gây ra, làm tổn thương cho bản thân. Ma tuý gây tác hại về nhiều mặt trong đời sống, xã hội. Sử dụng ma tuý làm suy thoái nhân cách, phẩm giá con người, gây xói mòn đạo lý, kinh tế, xã hội. Hành vi phạm tội của bị cáo làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến an ninh trật tự tại địa phương.

Bị cáo NGUYỄN TRƯỜNG H là người đã trưởng thành, có trình độ học vấn nhất định, lẽ ra bị cáo phải nhận thức được tác hại và hậu quả của việc sử dụng ma túy. Nhưng vì muốn thỏa mãn nhu cầu của bản thân bị cáo đã tàng trữ 7,9230 gam Ketamine và 3,6060 gam MDMA. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của nhà nước, góp phần tiếp tay cho những tệ nạn xã hội khác. Theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 5 Nghị định 19/2018/NĐ-CP ngày 02-02-2018 của Chính phủ về việc tính khối lượng hoặc thể tích chất ma túy tại một số Điều của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 thì hành vi đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm n khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, đúng như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai đã truy tố là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo một mức án tù có thời hạn tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, nhằm giáo dục bị cáo cải tạo bản thân tiến bộ là cần thiết.

Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Bị cáo có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Ngoài ra, gia đình bị cáo H có đơn được chính quyền địa phương xác nhận bị cáo là lao động chính trong gia đình. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 khi quyết định hình phạt.

Về vật chứng vụ án:

Đối với 01 bì công văn ghi số 452/PC09 ngày 09/7/2022 có dấu niêm phong của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Gia Lai (có các chữ ký của Nguyễn Đại Hải, Trần Minh Duy, Nguyễn Minh Tâm) là số ma túy còn lại sau giám định, cần tịch thu tiêu hủy là phù hợp.

Đối với 01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone màu xanh kèm thẻ sim có dãy 8984048000056684736. Đây là tài sản của bị cáo H, không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo là phù hợp. (điện thoại cũ, đã qua sử dụng, Chi cục THADS không kiểm tra tình trạng bên trong)

Đối với 01 tờ tiền polyme mệnh giá 20.000đồng (Hai mươi nghìn đồng) tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam là tiền mà bị cáo H sử dụng làm dụng cụ để sử dụng ma túy. Do đó, cần tịch thu sung quỹ Nhà nước là phù hợp.

Đối với 01 (một) hộp sắt đỏ (đã qua sử dụng); 01 đĩa sứ màu trắng đường kính 18cm (đĩa đã qua sử dụng) là công cụ sử dụng trái phép chất ma túy của bị cáo H. Do đó, cần tịch thu tiêu hủy là phù hợp.

Về hình phạt bổ sung: Mục đích của bị cáo H mua ma túy về để sử dụng, bị cáo không có tài sản riêng nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về các vấn đề khác:

Đối với đối tượng tên Kiều là người mà bị cáo H khai đã bán ma túy cho H: Do bị cáo H không biết được nhân thân, lai lịch; Cơ quan điều tra đã tiến hành mở danh bạ, nhật ký cuộc gọi, tin nhắn trong chiếc điện thoại đã thu giữ của H nhưng không xác định được số điện thoại của các đối tượng này và không xác định được nội dung tin nhắn liên quan đến việc mua bán ma túy. Đồng thời, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Pleiku đã tiến hành xác minh tại khu vực bờ kè, phường Hội Thương, thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai nhưng chưa xác định được đối tượng Kiều nên chưa có căn cứ để điều tra, xử lý. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố tiếp tục xác minh, làm rõ và xử lý sau.

Đối với bà Võ Thị Thanh (mẹ ruột của NGUYỄN TRƯỜNG H) là người ở cùng nhà bị cáo H tại hẻm 114, đường Trường Chinh, Tổ 9, phường Phù Đổng, thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai. Tuy nhiên, việc H mua ma tuý mang về nhà cất giấu và sử dụng thì bà Thanh không biết nên không có căn cứ để xử lý là phù hợp.

Về án phí: Bị cáo NGUYỄN TRƯỜNG H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH;

Căn cứ vào điểm n khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 50 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với bị cáo NGUYỄN TRƯỜNG H.

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo NGUYỄN TRƯỜNG H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt:

Xử phạt bị cáo: NGUYỄN TRƯỜNG H 05 (năm) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 30-6-2022.

3. Về xử lý vật chứng:

Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 và căn cứ khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Xử:

Trả lại cho bị cáo NGUYỄN TRƯỜNG H 01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone màu xanh kèm thẻ sim có dãy 8984048000056684736 (điện thoại cũ, đã qua sử dụng, Chi cục THADS không kiểm tra tình trạng bên trong)

Tịch thu sung Ngân quỹ Nhà nước 01 tờ tiền polyme mệnh giá 20.000đồng (Hai mươi nghìn đồng) tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.

Tịch thu tiêu hủy 01 bì công văn ghi số 452/PC09 ngày 09/7/2022 có dấu niêm phong của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Gia Lai (có các chữ ký của Nguyễn Đại Hải, Trần Minh Duy, Nguyễn Minh Tâm).

Tịch thu tiêu hủy 01 (một) hộp sắt đỏ (đã qua sử dụng); 01 đĩa sứ màu trắng đường kính 18cm (đĩa đã qua sử dụng).

(Tất cả theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 28-11-2022 giữa Công an thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Pleiku,tỉnh Gia Lai).

4. Về án phí:

Căn cứ Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội. Buộc bị cáo NGUYỄN TRƯỜNG H phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo:

Căn cứ vào các Điều 331 và 333 của Bộ luật tố Tụng hình sự năm 2015;

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền làm đơn kháng cáo để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm.

“Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”.

Cỡ chữ