- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Nguyễn Thị Kim L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị Kim L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CƯ M’GAR TỈNH ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 25/2023/HSST Ngày 22 – 6 – 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CƯ M’GAR – TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Trọng Phụng
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Trần Thị Loan
2. Ông Y Wal MLô
- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Đinh Thị Thảo – Thư ký tòa án nhân dân huyện Cư M’gar, tỉnh Đắk Lắk
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cư M’gar, tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Ông Phạm Đình Dũng - Chức vụ Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 6 năm 2023, tại phòng xét xử Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Đắk Lắk, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 25/2023/TLST-HS, ngày 31 tháng 5 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 25/2023/QĐXXST- HS ngày 09 tháng 6 năm 2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Thị Kim L; Tên gọi khác: Không; Sinh năm 1997; tại tỉnh Đắk Lắk;
Nơi ĐKHKTT: Tổ dân phố 9, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk
Nơi cư trú: Buôn H, xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk;
Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ học vấn: 3/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không. Con ông Nguyễn Hữu P, sinh năm: 1966 và bà Lê Thị X, sinh năm: 1968, trú tại tổ dân phố 9, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Bị cáo có chồng là Trần Tấn Đ (đã ly hôn). Có 03 người con, con lớn nhất sinh năm 2015, con nhỏ nhất sinh năm 2021.
Tiền án: Không; Tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 10/4/2023 cho đến nay – Có mặt tại phiên tòa.
Người làm chứng:
1. Anh Y Da L, sinh năm 1988, vắng mặt
Địa chỉ: Buôn H, xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk
2. Anh Y Quyết N, sinh năm 1997, vắng mặt
Địa chỉ: Buôn H, xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào sáng ngày 10/4/2023, Nguyễn Thị Kim L, sinh năm: 1997 đón xe buýt đi từ ngã ba buôn J, xã E, huyện C đến thị trấn Q, huyện C, tỉnh Đắk Lắk chơi. Đến khoảng 13 giờ 30 phút L đi đến khu vực đường N, thị trấn Q, huyện C để gặp một người nam thanh niên tên thường gọi là Đ (không rõ nhân thân lai lịch) rồi hỏi mua của người này 200.000 đồng ma túy đá về để sử dụng. Sau khi mua được ma túy đá L cất vào trong túi xách màu đen của mình rồi ra đón xe buýt về lại xã E, huyện C. Đến k hoảng 14 giờ 10 phút L đang đi bộ tại khu vực ngã ba buôn J, xã E, huyện C thì bị tổ công tác của đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Kinh tế ma tuý Công an huyện C phát hiện bắt quả tang cùng tang vật. Tại thời điểm bắt quả tang phát hiện L đang mang trên người ở phía trước bên trái một túi xách màu đen, kiểm tra bên trong túi xách này phát hiện có 02 (hai) gói ny lon trong suốt, trong đó: 01 (một) gói có kích thước (01x2,5)cm và 01 (một) gói có kích thước (01x03)cm bên trong 02 (hai) gói ny lon này đều có chứa chất rắn dạng tinh thể. Sau đó lực lượng Công an đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với L về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, tạm giữ niêm phong tang vật theo đúng quy định của pháp luật.
Tại bản kết luận giám định số 452/KL-KTHS ngày 14/4/2023, của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Lắk kết luận: Chất rắn dạng tinh thể đựng trong 01 (một) gói nylon trong suốt kích thước (01x2,5)cm và 01 (một) gói nylon trong suốt kích thước (01x 03)cm được niêm phong gửi giám định là ma tuý, có tổng khối lượng 0,2152gam, loại: Methamphetamine.
Tại bản cáo trạng số: 25/CT-VKS ngày 30 tháng 5 năm 2023 Viện kiểm sát nhân dân huyện Cư M’gar, truy tố bị cáo Nguyễn Thị Kim L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Kết quả xét hỏi tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Thị Kim L đã khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng đã nêu ở trên.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát đã đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và giữ nguyên quyết định truy tố. Đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Kim L mức án từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù giam.
Các biện pháp tư pháp: Căn cứ khoản 1 Điều 46, khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Tịch thu tiêu hủy 0,1873 gam loại Methamphetamine và toàn bộ bao gói đựng mẫu vật.
- Tịch thu tiêu hủy 01 túi xách màu đen kích thước (07×14×20)cm, có dây đeo bằng kim loại màu vàng nối với dây nhựa màu đen.
Bị cáo không tranh luận bào chữa gì mà chỉ mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Căn cứ vào các chứng cứ và tại liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử: Về hành vi, Quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục và thẩm quyền theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Do đó hành vi, quyết định của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định pháp luật.
Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về tội danh, các tình tiết giảm nhẹ và đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo là đúng quy định của pháp luật.
Về chứng cứ xác định hành vi phạm tội: Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Thị Kim L tại phiên tòa hôm nay là phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, người làm chứng và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án.
Như vậy, đã có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 14 giờ 10 phút ngày 10/4/2023, tại buôn J, xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk, Nguyễn Thị Kim L có hành vi tàng trữ trái phép 0,2152 gam chất ma túy, loại Methamphetamine, mục đích để sử dụng thì bị Công an phát hiện và bắt quả tang cùng tang vật. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a)…..
c) Heroine, cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;
Xét tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, không những đã xâm phạm đến sự độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các loại dược chất ma túy mà còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo nhận thức được rằng các loại dược chất ma túy đều thuộc sự độc quyền quản lý của Nhà nước, thông qua các cơ quan chức năng có thẩm quyền và phải tuân theo những trình tự, thủ tục nghiêm ngặt, mọi hành vi tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy đều bị trừng trị nghiêm khắc. Người nghiện ma túy là tự tàn phá sức khỏe, làm tổn hại giống nòi và còn là nguyên nhân làm lây truyền các căn bệnh xã hội và còn làm phát sinh những loại tội phạm khác. Nhưng do ý thức coi thường pháp luật nên bị cáo đã mua của một người đàn ông (hiện chưa rõ nhân thân, lai lịch) 02 (hai) gói ny lon ma túy loại Methamphetamine với số tiền là 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) để về sử dụng thì bị phát hiện bắt giữ.
Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:
Tình tiết tăng nặng: Không.
Tình tiết giảm nhẹ: Sau khi phạm tội, tại cơ quan điều tra và tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Hội đồng xét xử cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt đối với bị cáo thể hiện tính nhân đạo của pháp luật xã hội chủ nghĩa.
Với tính chất vụ án, hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng hình phạt tù cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian tương xứng với tính chất, hành vi phạm tội của bị cáo để thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật góp phần giáo dục phòng ngừa tội phạm chung và riêng trong toàn xã hội.
Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của bị cáo, Công an huyện C đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt Cảnh cáo là phù hợp.
Trong vụ án này, người tên Đ là người đã bán ma túy cho bị cáo trong quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C chưa xác minh được nhân thân lai lịch của đối tượng này nên tách ra và tiếp tục xác minh làm rõ, xử lý sau là phù hợp.
Về xử lý vật chứng:
- Đối với 0,1873 gam loại Methamphetamine và toàn bộ bao gói đựng mẫu vật hoàn lại sau giám định là hàng cấm nên cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 01 túi xách màu đen kích thước (07×14×20)cm, có dây đeo bằng kim loại màu vàng nối với dây nhựa màu đen là công cụ bị cáo dùng để thực hiện hành vi phạm tội và không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị Kim L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Kim L 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam, ngày 10/4/2023.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 46; khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy mẫu vật còn lại sau giám định là 0,1873 gam loại Methamphetamine và toàn bộ bao gói đựng mẫu vật, 01 túi xách màu đen kích thước (07×14×20)cm, có dây đeo bằng kim loại màu vàng nối với dây nhựa màu đen.
(Hiện vật chứng đang được lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cư M’gar, đặc điểm theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 31/5/2023).
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Nguyễn Thị Kim L phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKS tỉnh; TA tỉnh ĐắkLắk ; - Sở Tư pháp ĐắkLắk; - Vụ giám đốc kiểm tra I; - VKS huyện C; - CA huyện C; - THA dân sự; THA hình sự; - Bị cáo; - Lưu văn thư; hồ sơ. | T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Phan Trọng Phụng |