vanban.org

Bản án 25/2023/HSST — Hình sự

TAND huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai Tuyên án 21/09/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt bị cáo Lù Seo L 01 (một) năm 06 (sáu

) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt 08/6/2023. Về vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a,c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lù Seo Long - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Lù Seo L 01 (một) năm 06 (sáu
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BẢO YÊN
TỈNH LÀO CAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 25/2023/HSST
Ngày 21 tháng 9 năm 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẢO YÊN, TỈNH LÀO CAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Bà Nguyễn Thị Thanh Vân.

Các Hội thẩm nhân dân

1. Bà Phạm Thị Dung

2. Ông Đoàn Thế Xương

Thư ký phiên tòa: Ông Phan Quốc Vương -Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân dân huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai tham gia phiên toà: Bà Hoàng Thị Hạnh- Kiểm sát viên

Ngày 21 tháng 9 năm 2023 tại Trụ sở Ủy ban nhân dân xã Cam Cọn, huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai. Tòa án nhân dân huyện Bảo yên, tỉnh Lào Cai.Xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 22 /2023/HSST ngày 23/8/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 20/QĐXXST- HS ngày 08 tháng 9 năm 2023 đối với bị cáo:

Lù Seo L; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 07 tháng 9 năm 1989 tại: huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai; Nơi cư trú: Bản Hò, xã X, huyện B, tỉnh L; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 03/12; dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lù A Dân, con bà: Lèng Thị B ; Vợ: Lù Thị C ; bị cáo có 04 con; con lớn nhất sinh năm 2011, con nhỏ nhất sinh năm 2017; Tiền án: Không; Tiền sự: Không

Bị cáo Lù Seo L bị bắt từ ngày 08/6/2023 hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Bảo Yên. Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 08/6/2023 Lù Seo L điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda waves BKS: 21V4-82.87 đi từ nhà theo đường Quốc lộ 279 đến đường liên bản Mỏ Đá - Sắc Phạ mua của một người đàn ông không biết tên 1 gói ma túy với giá 550.000đ (Năm trăm năm mươi nghìn đồng). Sau đó bị cáo để túi ma tuý vào túi quần bên trái đang mặc điều khiển xe mô tô về nhà, đi đến khu vực bản Mỏ Đá, xã Tân Dương, huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai thì bị lực lượng Công an huyện Bảo Yên kiểm tra, Long đã tự giác lấy 01 gói nilon màu xanh bên trong là gói giấy bạc bên trong gói giấy bạc là 11 viên nén hình trụ màu hồng có đặc điểm giống nhau một mặt có chữ “WY” trong túi quần ra giao nộp và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lù Seo L khai nhận là ma tuý của Lù Seo L, cất giấu để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang Lù Seo L và niêm phong số ma tuý thu giữ theo quy định; Ngoài ra còn tạm giữ của Lù Seo L 01 (một) xe mô tô, nhãn hiệu Honda waves BKS: 21V4-82.87

Tại bản kết luận giám định số 195/KL-GĐMT ngày 10/6/2023 của Phòng KTHS Công an tỉnh Lào Cai, kết luận: 11 viên nén hình trụ màu hồng có đặc điểm giống nhau một mặt có chữ “WY” thu giữ của Lù Seo L ngày 08/6/2023 có khối lượng 1,08 (Một phẩy không tám) gam là loại chất ma túy Methamphetamine

Cáo trạng số 22/KSĐT ngày 22/8/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai truy tố bị cáo Lù Seo L phạm tội: "Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai đã đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lù Seo L phạm vào tội: "Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo từ 01 (một) 06 (sáu) tháng đến 02 năm tù.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a,c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự xử lý theo quy định của pháp luật.

Tính án phí và tuyên quyền kháng cáo cho bị cáo theo quy định của pháp luật

Tại phiên toà: Bị cáo Lù Seo L khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như tóm tắt ở trên và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo Lù Seo L: Tại phiên tòa bị cáo khai nhận tội, lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai người làm chứng, tang vật thu giữ và kết luận giám định. Do nghiện ma túy khoảng12 giờ 30 phút ngày 08/6/2023, Lù Seo L đã nảy sinh ý định đi mua ma túy để sử dụng, bị cáo bỏ ra 550.000đ (Năm trăm năm mươi nghìn đồng) mua được 1,08 (Một phẩy không tám) gam ma túy Methamphetamine về với mục đích sử dụng cho bản thân thì bị tổ công tác Công an Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Ma túy Công an huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai phát hiện bắt giữ cùng toàn tang vật.

Từ những phân tích trên Hội đồng xét xử xét thấy có đủ căn cứ xác định hành vi tàng trữ 1,08 (Một phẩy không tám) gam ma túy Methamphetamine của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “tàng trữ trái phép chất ma túy” Tội phạm được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai truy tố bị cáo về tội danh và điều luật viện dẫn nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước, gây ảnh hưởng đến trật tự trị an tại địa phương. Do vậy hội đồng xét xử cần phải áp dụng một mức án nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có thể giáo dục bị cáo trở thành con người sống có ích cho xã hội đồng thời mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Về nhân thân: Bị cáo chưa bị xử lý hành chính chưa bị truy tố xét xử.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo sau khi phạm tội đã thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội của mình nên cần áp dụng điểm s khoản 1điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo là phù hợp thể hiện tính khoản hồng của pháp luật.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự quy định “Người phạm tội có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng”, do đó bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Tuy nhiên bị cáo không có tài sản nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng vụ án: 0,67 (Không phẩy sáu bảy) gam ma túy Methamphetamine còn lại sau trích mẫu giám định và 01 mảnh nilon màu xanh; 01 mảnh giấy bạc. Xét thấy đây thuộc danh mục các chất Nhà nước cấm lưu hành và không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu huỷ theo điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a,c khoản 2 điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự là phù hợp.

Đối với chiếc xe mô tô, nhãn hiệu Honda waves BKS: 21V4-82.87 xác định đây là tài sản của bị cáo để làm phương tiện đi lại hàng ngày không sử dụng xe vào việc tàng trữ ma túy ngày 08/6/2023; Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý trả lại tài sản cho bị cáo là đúng quy định của pháp luật.

Đối với người nam giới không biết tên đã bán ma túy cho bị cáo ngoài lời khai của bị cáo Lù Seo L ra không có tài liệu nào khác làm rõ nên không đề cập xử lý trong vụ án này.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại điều 136 khoản 2 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1điều 51; điều 38 Bộ luật hình sự. Tuyên bố bị cáo Lù Seo L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Xử phạt bị cáo Lù Seo L 01 (một) năm 06 (sáu

) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt 08/6/2023.

Về vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a,c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự.

Tịch thu tiêu hủy 01 mảnh nilon màu xanh; 01 mảnh giấy bạc; 0,67 (Không phẩy sáu bảy) gam ma túy Methamphetamine được niêm phong trong một bì thư in sẵn của phòng KTHS- Công án tỉnh Lào Cai mặt trước của bì niêm phong này có ghi “Vật chứng còn lại sau trích mẫu giám định thu giữ trong quá trình bắt quả tang Lù Seo L ngày 08/6/2023.Theo biên bản giao nhận của Chi cục Thi hành án huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai ngày 22/8/2023.

Về án phí: Áp dụng khoản 2 điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội buộc bị cáo Lù Seo L phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự ; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự

NƠI NHẬN

Cỡ chữ