vanban.org

Bản án 25/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang Tuyên án 24/05/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao về việc Hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo; Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyế… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thị Bé S - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số Số: 01/2022/NQ-HĐTP Sửa đổi, bổ sung một số đi…; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng Điều 65 của…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ CAI LẬY
TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 25/2023/HS-ST
Ngày: 24-5-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CAI LẬY, TỈNH TIỀN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Phong Hiếu.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trần Văn Tám;

2. Ông Lê Văn Tám.

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Văn Nhàn - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Liễu - Kiểm sát viên.

Trong ngày 24 tháng 5 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 16/2023/TLST-HS ngày 28 tháng 3 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 21/2023/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 4 năm 2023 đối với bị cáo:

Nguyễn Thị Bé S (tên gọi khác: Tư G), sinh ngày 01 tháng 01 năm 1964, tại tỉnh Tiền Giang;

- Nơi cư trú: Ấp S, xã H, thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang;

- Nghề nghiệp: Không;

- Trình độ văn hoá (học vấn): 10/12;

- Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam;

- Con ông Nguyễn Văn B (đã chết) và bà Nguyễn Thị L (đã chết);

- Bị cáo có chồng và 05 con;

- Tiền án: Không có;

- Tiền sự: Ngày 12/5/2021, bị Trưởng Công an xã H, thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang xử phạt vi phạm hành chính với số tiền là 1.500.000 đồng về hành vi chơi lô tô hình thức ăn thua bằng tiền theo Quyết định số 0000038/QĐ-XPHC ngày 12/5/2021, đã đóng phạt vào ngày 24/5/2023;

- Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú;

- Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

* Người bào chữa: Bà Trần Thị Thảo V - Luật sư thuộc Công ty Luật TNHH Nam Hoàng Việt chi nhánh Cai Lậy, Đoàn Luật sư tỉnh Tiền Giang; (có mặt)

Địa chỉ văn phòng: Khu phố T, phường M, thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1/ Chị Võ Thị T, sinh năm 1977; (vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp S, xã P, huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang.

2/ Anh Huỳnh Văn H, sinh năm 1965; (vắng mặt)

Địa chỉ: Số 83/1, Khu phố A, phường B, thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 17/5/2021, bà Võ Thị T, sinh năm 1977, cư trú ấp S, xã P, huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang đến nhà Nguyễn Thị Bé S, thì Nguyễn Thị Bé S rủ bà T chơi đánh bài loại 52 lá, hình thức binh Ấn Độ, mỗi ván thắng thua với số tiền từ 10.000 đồng đến 30.000 đồng. Ván đầu tiên, Nguyễn Thị Bé S làm cái, chia bài và thua bà T số tiền là 20.000 đồng. Lúc này, ông Huỳnh Văn H, sinh năm 1965, cư trú số 83/1, Khu phố A, phường B, thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang đến nhà Nguyễn Thị Bé S nên cũng tham gia chơi đánh bài. Ván này, Nguyễn Thị Bé S tiếp tục làm cái và chia bài, chưa có kết quả thắng thua thì Công an đến lập biên bản.

* Kết luận giám định pháp y tâm thần theo trưng cầu số 16/2023/KLGĐ ngày 13/01/2023 của Trung tâm pháp y tâm thần khu vực Tây Nam Bộ như sau:

- Về y học: Trước, trong khi phạm tội đương sự không bệnh lý tâm thần. Sau khi phạm tội và hiện tại đương sự có bệnh lý tâm thần: rối loạn khí sắc thực tổn (F06.3-ICD10).

- Về năng lực: Tại thời điểm phạm tội đương sự đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi. Hiện tại, đương sự hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi, rối loạn khí sắc ở mức độ vừa.

* Vật chứng thu giữ được bao gồm:

- 01 (một) bộ bài tây loại 52 lá;

- Số tiền thu giữ trên người các đối tượng là 1.800.000 đồng. Trong đó, Nguyễn Thị Bé S là 900.000 đồng, Huỳnh Văn H là 200.000 đồng và Võ Thị T là 700.000 đồng.

- 01 (một) xe mô tô, biển kiểm soát 63X8-8341.

* Về xử lý vật chứng trong quá trình điều tra:

- Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại 01 xe mô tô mang biển kiểm soát số 63X8-834 cho chị Huỳnh Thị Mỹ Duyên, sinh năm 1989, cư trú Khu phố A, phường B, thị xã Cai Lậy, Tiền Giang.

- Đối với số tiền 200.000 đồng và 700.000 đồng đã thu giữ của Huỳnh Văn H và Võ Thị T đã xử lý khi ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính.

* Cáo trạng số 22/CT-VKSTXCL ngày 28 tháng 3 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang truy tố bị cáo Nguyễn Thị Bé S để xét xử về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

* Tại phiên tòa:

1. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang giữ quyền công tố, trình bày tranh luận và luận tội:

- Giữ nguyên cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo Nguyễn Thị Bé S, ngoài ra còn phân tích, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.

- Đề nghị Hội đồng xét xử:

+ Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Bé S phạm tội “Đánh bạc”.

+ Áp dụng Điều 32, Điều 38, điểm i, s, q khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Bé S từ 06 tháng đến 09 tháng tù;

+ Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

. Tịch thu và tiêu hủy đối với 01 (một) bộ bài tây loại 52 lá.

. Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước đối với số tiền là 900.000 đồng thu giữ trên người của bị cáo Nguyễn Thị Bé S.

2. Người bào chữa của bị cáo trình bày: Thống nhất với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Tuy nhiên, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét và quyết định cho bị cáo được hưởng án treo vì hiện nay bị cáo đã lớn tuổi, đã từng bị bệnh tai biến nên sức khỏe không đảm bảo cho việc chấp hành án phạt tù.

3. Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình theo đúng như Cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang đã truy tố. Đồng thời, bị cáo không có ý kiến gì về việc xử lý vật chứng của cơ quan điều tra cũng như không có ý kiến gì về đề nghị xử lý vật chứng của Viện kiểm sát.

- Bị cáo không có ý kiến tranh luận và thống nhất đối với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa;

4. Các người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt.

5. Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đã ăn năn, hối hận về hành vi của mình. Xin được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về sự vắng mặt của những người được triệu tập tại phiên tòa:

Các người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa. Xét thấy, các người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án đã có lời khai tại Cơ quan điều tra và được thể hiện trong hồ sơ vụ án. Việc xét xử vắng mặt những người này không làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 296 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử:

- Hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên - Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang; Kiểm sát viên - Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Các tài liệu, chứng cứ do Cơ quan Cảnh sát Điều tra và Viện kiểm sát thu thập là hợp pháp.

- Quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không có khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Như vậy, hành vi và quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về nội dung vụ án:

Các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo Nguyễn Thị Bé S tại phiên tòa hôm nay cho thấy: Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 17/5/2021, tại nhà của bị cáo Nguyễn Thị Bé S ở ấp S, xã H, thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang. Nguyễn Thị Bé S có hành vi đánh bạc thắng thua bằng tiền. Tuy rằng, số tiền sử dụng để đánh bạc là chưa đủ định lượng để truy cứu trách nhiệm hình sự nhưng do Nguyễn Thị Bé S đã từng bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Chơi lô tô hình thức ăn thua bằng tiền” mà còn vi phạm nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự đối với tội “Đánh bạc”.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thị Bé S đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của những người liên quan, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở để kết luận bị cáo Nguyễn Thị Bé S phạm tội “Đánh bạc” được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị Bé S với tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng với quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến trật tự công cộng, gây mất an ninh, trật tự và an toàn xã hội tại địa phương. Bị cáo tại thời điểm phạm tội là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi đánh bạc là vi phạm pháp luật. Mặt khác, bị cáo đã từng bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc nhưng do hám lợi, muốn có tiền tiêu xài mà không phải vất vả lao động nên vẫn tiếp tục cố ý phạm tội. Do đó, cần phải xét xử bị cáo thật nghiêm để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung trong toàn xã hội.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên cần được xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

- Kết luận giám định pháp y tâm thần theo trưng cầu số 16/2023/KLGĐ ngày 13/01/2023 của Trung tâm pháp y tâm thần khu vực Tây Nam Bộ xác định trước và trong khi phạm tội bị cáo không có bệnh lý tâm thần và đủ khả năng nhận thức, điều khiển hành vi. Như vậy, tại thời điểm phạm tội bị cáo hoàn toàn có khả năng nhận thức và làm chủ hành vi khi thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy, không có cơ sở để áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là “Người phạm tội là người có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình” được quy định tại điểm q, khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

- Tuy nhiên, cũng theo Kết luận giám định pháp y tâm thần theo trưng cầu số 16/2023/KLGĐ ngày 13/01/2023 của Trung tâm pháp y tâm thần khu vực Tây Nam Bộ thì hiện tại bị cáo có bệnh lý tâm thần là rối loạn khí sắc thực ở mức độ vừa nên bị hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi nên cần xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.

Về đặc điểm nhân thân của bị cáo:

- Bị cáo không có tiền án nhưng có 01 tiền sự về về hành vi “Chơi lô tô hình thức ăn thua bằng tiền” theo Quyết định số 0000038/QĐ-XPHC ngày 12/5/2021 của Trưởng Công an xã H, thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang, đã đóng phạt vào ngày 24/5/2023.

- Bị cáo hiện tại có bệnh lý tâm thần là rối loạn khí sắc thực ở mức độ vừa nên bị hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.

Căn cứ tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và đặc điểm nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy như sau: Bị cáo Nguyễn Thị Bé S có 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 1 và 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; có nhân thân tốt, không có tiền án, có tiền sự nhưng mà khi định tội đã sử dụng tình tiết “đã bị xử phạt vi phạm hành chính” làm tình tiết định tội, có nơi cư trú rõ ràng và đây là lần đầu tiên bị cáo phạm tội. Mặt khác, số tiền mà bị cáo đặt cược để đánh bạc là không lớn, chỉ từ 10.000 đồng đến 30.000 đồng.

Như vậy, bị cáo có đủ các điều kiện để được hưởng án treo theo quy định tại Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao về việc Hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà cho bị cáo tự cải tạo tại địa phương cũng đủ tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo thành người có ích cho gia đình và xã hội.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy, bị cáo hiện nay đã lớn tuổi, không có việc làm ổn định, phải sống nhờ ở nhà của con cái và số tiền mà bị cáo sử dụng để đặt cược khi đánh bạc là không lớn nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung.

Xử lý vật chứng:

- Các vật chứng mà Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang đã ra quyết định xử lý là phù hợp theo quy định pháp luật, không có ai có ý kiến gì về việc xử lý vật chứng nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét;

- Đối với 01 (một) bộ bài tây loại 52 lá đây là công cụ, phương tiện bị cáo dùng vào việc đánh bạc nên cần tịch thu tiêu hủy.

- Đối với số tiền là 900.000 đồng thu giữ trên người của bị cáo Nguyễn Thị Bé S đây là tiền mà bị cáo sử dụng để đánh bạc nên cần tịch thu, nộp ngân sách nhà nước.

Các vật chứng hiện do cơ quan Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang quản lý theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 23/5/2023.

Về các vấn đề khác trong vụ án:

- Huỳnh Văn H bị Trưởng Công an xã H, thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc theo quyết định số 0000029 ngày 14/8/2020. Tuy nhiên, Huỳnh Văn H chưa được tống đạt quyết định xử phạt vi phạm hành chính nên không bị xem là có tiền sự. Vì vậy, lần đánh bạc này không cấu thành tội phạm. Công an thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính và đã tịch thu số tiền 200.000 đồng dùng để đánh bạc.

- Võ Thị T có hành vi đánh bạc thắng thua bằng tiền, nhưng chưa có tiền án, tiền sự về hành vi đánh bạc hoặc tổ chức đánh bạc, gá bạc nên không cấu thành tội phạm. Công an thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính và đã tịch thu số tiền 700.000 đồng dùng để đánh bạc.

Xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang là phù hợp một phần nên Hội đồng xét xử chấp nhận một phần.

Xét đề nghị của người bào chữa cho bị cáo là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Điều 32, 38, 46; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, và khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017;

- Điều 106, 135, 136, 290, 296, 299, 326, 327, 331, 333 và Điều 337 Bộ luật Tố tụng hình sự;

- Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

- Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao về việc Hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo;

- Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018;

1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị Bé S phạm tội “Đánh bạc”.

[1.1] Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Bé S 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 18 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Nguyễn Thị Bé S cho Ủy ban nhân dân xã H, thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Gia đình của bị cáo Nguyễn Thị Bé S có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã H, thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

[1.2] Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

2. Về xử lý vật chứng:

- Tịch thu và tiêu hủy đối với: 01 (một) bộ bài tây loại 52 lá;

- Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước đối với số tiền là 900.000 đồng thu giữ trên người của bị cáo Nguyễn Thị Bé S;

- Các vật chứng hiện đang do cơ quan Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang quản lý theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 23/5/2023.

3. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Thị Bé S phải chịu án phí hình sự sơ thẩm với số tiền là 200.000 đồng.

4. Về quyền kháng cáo:

- Bị cáo Nguyễn Thị Bé S có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án;

- Các người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ