vanban.org

Bản án 25/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh Tuyên án 09/03/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố các bị cáo: Ngô Văn M và Đặng Văn P

Phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” Áp dụng: điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Ngô Văn M cùng đồng phạm "Mua bán trái phép chất ma túy" - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điề…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo: Ngô Văn M và Đặng Văn P
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 101 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ MÓNG CÁI
TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 25/2023/HS-ST
Ngày 09-03-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MÓNG CÁI, TỈNH QUẢNG NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán-chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Cao Văn

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Giang và ông Nguyễn Thế Căn.

- Thư ký phiên tòa: bà Lục Thanh Hương là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh.

- Đại diện viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái tham gia phiên tòa: ông Đặng Quang Quyết - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 03 năm 2023, tại Tòa án nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 11/2023/TLST-HS ngày 9 tháng 02 năm 2023; Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 16/2023/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 02 năm 2022 đối với các bị cáo:

* Họ và tên:

1. Ngô Văn M (tên gọi khác: không); sinh ngày: 26/5/1989, tại Móng Cái, Quảng Ninh; nơi cư trú: tổ 1, khu Th, phường N, thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: kinh; tôn giáo: thiên chúa giáo ; giới tính: nam; trình độ học vấn: 5/12; nghề nghiệp: lao động tự do; Con ông Ngô Văn T và bà Lý Thị Đ; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: chưa.

Bị cáo bị giữ người trong trường hợp khẩn cấp ngày 14/9/2022, hiện tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Móng Cái. Có mặt.

2. Đặng Văn P (tên gọi khác: không); sinh ngày: 30/12/2004, tại Móng Cái, Quảng Ninh; nơi cư trú: khu H, phường N, thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; giới tính: nam; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: lao động tự do; con ông Đặng Văn Đ và bà Trần Thị H; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: chưa.

Bị cáo bị bắt quả tang ngày 14/9/2022, hiện tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Móng Cái. Có mặt.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Chị Trần Thị H, sinh năm 1983, địa chỉ: khu H, phường N, thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh. Có mặt.

- Anh Đỗ Đức B, sinh năm 1975, địa chỉ: khu T, phường N, thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh. Có mặt.

* Người làm chứng: Nguyễn Thanh T. Vắng mặt.

* Người chứng kiến: Nguyễn Văn T1. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng đầu tháng 9/2022, thông qua ứng dụng Telegram trên điện thoại, Ngô Văn M đã liên hệ hỏi mua được 100 gam cần sa với giá 2.500.000 đồng của một người không quen biết, sau đó M nhờ một người đàn ông không quen biết chuyển tiền vào tài khoản ngân hàng của người bán ma túy, đến ngày 10/9/2022 M nhận được số ma túy cần sa qua dịch vụ chuyển phát nhanh. Sau khi nhận, M lấy một phần cần sa còn tươi đem phơi trong phòng ngủ nhà M ở Tổ 1, khu Thác Hàn, phường Ninh Dương, thành phố Móng Cái, số còn lại chia thành nhiều túi nhỏ cất giấu, mục đích để sử dụng và bán cho người khác kiếm lời.

Trưa ngày 13/9/2022, Đặng Văn P gọi điện thoại cho Ngô Văn M hỏi mua 01 túi cần sa. M đồng ý bán và hẹn đến khu vực ngõ Cầu Đá gần cổng chào khu Hồng Phong, phường Ninh Dương, thành phố Móng Cái, để giao dịch. Một lát sau, tại điểm hẹn, M bán cho Phúc 01 túi cần sa với giá 100.000 đồng. Sau khi mua, Phúc đem số ma tuý trên về nhà sử dụng hết.

Đến khoảng 19 giờ cùng ngày, Nguyễn Thanh Tùng (sinh năm 2004, trú tại khu Thượng Trung, phường Ninh Dương, thành phố Móng Cái) nhắn tin cho Phúc hỏi mua 100.000 đồng cần sa. Phúc nảy sinh ý định mua ma tuý về bán lại cho Tùng để kiếm lời sử dụng nên đồng ý bán. Tiếp đó, Phúc gọi điện thoại và hẹn M đến khu vực Cầu Đá, rồi mua của M 01 túi cần sa với giá 100.000 đồng, nhưng xin nợ tiền. Sau khi mua được ma túy, Phúc lấy ra một phần cần sa cất vào túi áo, rồi liên lạc với Tùng hẹn đến khu vực Cầu Đá để bán số cần sa còn lại. Khoảng 22 giờ cùng ngày, tại điểm hẹn, Phúc bán cho Tùng túi cần sa trên với giá 100.000 đồng, số cần sa cất giấu trong túi áo Phúc đem sử dụng hết.

Sáng ngày 14/9/2022, Phúc tiếp tục liên lạc hẹn Ngô Văn M đến khu vực Cầu Đá và mua được của M 01 túi cần sa với giá 100.000 đồng, rồi mang về nhà sử dụng hết.

Đến khoảng 14 giờ cùng ngày, Nguyễn Thanh T lại gọi điện cho P hỏi mua 02 túi cần sa, P đồng ý bán cho T với giá 200.000 đồng/02 túi và hẹn giao dịch tại khu vực gần cây xăng Hải Yên thuộc Khu 7, phường Hải Yên, thành phố Móng Cái. Sau đó, P gọi điện thoại rồi điều khiển xe mô tô biển kiểm soát (BKS) 16M7 – 8578 đi đến khu vực Cầu Đá gặp và mua của M 02 túi cần sa với giá 200.000 đồng (trả trước cho M 150.000 đồng, còn nợ 50.000 đồng). Khoảng 14 giờ 30 phút cùng ngày, P cất 02 túi cần sa vào túi áo và đi đến điểm hẹn gặp Tùng, khi P đi đến đường Trần Quý Cáp thuộc khu 7, phường Hải Yên, thành phố Móng Cái thì bị Tổ công tác của Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố Móng Cái kiểm tra, bắt quả tang. Vật chứng thu giữ trong túi áo ngoài bên phải của P: 02 túi nilon có kích thước (7,5x4)cm, đều chứa thực vật khô (ký hiệu M1, M2). Ngoài ra còn tạm giữ của P 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone và 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RS BKS 16M7 – 8578.

Căn cứ tài liệu điều tra, cùng ngày Cơ quan điều tra ra lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Ngô Văn M. Thu giữ của M: 03 túi nilon kích thước (7,5x4)cm đều chứa thực vật khô (ký hiệu M3 – M5), 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu iphone, 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream BKS 14K1- 067.58 và số tiền 200.000 đồng.

Tiến hành khám xét khẩn cấp nhà của Ngô Văn M, thu giữ trong phòng ngủ thứ nhất 01 ba lô màu đen bên trong có 33 túi nilon chứa thực vật khô (ký hiệu từ M6 đến M38), thu giữ tại dây phơi trong phòng ngủ thứ ba có 06 cành thực vật khô (ký hiệu M39).

Tại bản Thông báo kết quả giám định tạm thời số 844/GĐMT ngày 22/9/2022 và Kết luận giám định số 1601/KLGĐ ngày 29/9/2022, của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh kết luận: Mẫu vật ký hiệu từ M1 đến M39 gửi giám định là ma túy, loại: Cần sa; có khối lượng: M1: 1,297 gam, M2: 1,241 gam, M3: 0,928 gam, M4: 1,495 gam, M5: 1,373 gam, M6: 1,623 gam, M7: 1,163 gam, M8: 1,536 gam, M9: 1,697 gam, M10: 1,411 gam, M11: 1,054 gam, M12: 1,508 gam, M13: 1,431 gam, M14: 1,173 gam, M15: 1,235 gam, M16: 1,562 gam, M17: 1,543 gam, M18: 1,063 gam, M19: 1,447 gam, M20: 1,405 gam, M21: 1,356 gam, M22: 1,224 gam, M23: 1,243 gam, M24: 1,209 gam, M25: 1,159 gam, M26: 1,419 gam, M27: 1,235 gam, M28: 1,375 gam, M29: 1,246 gam, M30: 1,468 gam, M31: 1,562 gam, M32: 1,558 gam, M33: 1,277 gam, M34: 1,255 gam, M35: 1,585 gam, M36: 1,412 gam, M37: 1,147 gam, M38: 1,378 gam, M39: 28,86 gam.

Quá trình điều tra Ngô Văn M và Đặng Văn P khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên.

Tại bản Cáo trạng số: 20/CT-VKS-MC, ngày 08 tháng 02 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh truy tố Ngô Văn M, Đặng Văn P về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận thực hiện hành vi mua bán ma túy như đã nêu trên.

* Phần tranh luận: Đại diện Viện kiểm sát trình bày lời luận tội giữ nguyên quyết định truy tố, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng: điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự:

Xử phạt: Ngô Văn M từ 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng đến 08 (tám) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 14/9/2022.

- Áp dụng: điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 91; khoản 1 Điều 101 Bộ luật hình sự:

Xử phạt: Đặng Văn P từ 05 (năm) năm đến 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 14/9/2022.

- Về hình phạt bổ sung: không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

- Về vật chứng: áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

+ Tịch thu tiêu hủy số ma túy sau giám định hoàn lại đã được niêm phong theo đúng quy định của pháp luật; 01 (một) balo màu đen bên ngoài ghi chữ “aizm”.

+ Tịch thu sung ngân sách Nhà nước: 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu vàng (điện thoại của Đặng Văn P); 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu trắng (Điện thoại của Ngô Văn M) và số tiền ngân hàng nhà nước Việt Nam 200.000đ (hai trăm nghìn đồng).

+ Truy thu của Ngô Văn M số tiền 150.000 đồng, của Đặng Văn P số tiền 100.000 đồng do phạm tội mà có.

- Về án phí: các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Các bị cáo không tranh luận gì với lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát.

* Các bị cáo nói lời sau cùng: đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

s

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Móng Cái, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Nhận định của Hội đồng xét xử về những chứng cứ xác định các bị cáo có tội, về tính chất, mức độ hành vi phạm tội: xét lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản giữ người trong trường hợp khẩn cấp; phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; người làm chứng, người chứng kiến, sơ đồ hiện trường, bản ảnh hiện trường, vật chứng thu giữ, bản kết luận giám định, cùng toàn bộ tài liệu thu thập được có trong hồ sơ vụ án, hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở kết luận:

Vào 02 ngày 13 và 14/9/2022, tại khu Hồng Phong, phường Ninh Dương, thành phố Móng Cái, Ngô Văn M 04 lần có hành vi bán ma tuý cho Đặng Văn P, gồm 03 lần mỗi lần 01 túi cần sa với giá 100.000 đồng và 01 lần 02 túi chứa 2,538 gam (hai phẩy năm ba tám gam) cần sa với giá 200.000 đồng. Sau khi mua, Đặng Văn P sử dụng hết 02 túi cần sa, còn lại 01 túi cần sa và 2,538 gam cần sa mang bán cho Nguyễn Thanh Tùng, thì bị bắt giữ.

Ngoài ra Ngô Văn M còn cất giấu 77,605 gam (bảy mươi bảy phẩy sáu không năm gam) cần sa nhằm mục đích bán cho người khác kiểm lời. Tổng khối lượng ma túy M bán và cất giấu để bán là 80,143 gam (tám mươi phẩy một bốn ba gam) cần sa.

Hội đồng xét xử xét thấy các bị cáo Ngô Văn M, Đặng Văn P đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái truy tố các bị cáo Ngô Văn M, Đặng Văn P về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự là có căn cứ.

Điều 251 Bộ luật hình sự quy định:

“1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.”...

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 đến 15 năm:

…

b) Phạm tội 02 lần trở lên;”…

Xét hành vi phạm tội của các bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy: hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm nghiêm trọng chính sách độc quyền quản lý Nhà nước về các chất ma túy, các bị cáo đều nhận thức được tác hại của ma túy và sự trừng phạt của pháp luật, nhưng do ý thức kém vì vụ lợi nên các bị cáo đã bất chấp pháp luật, thực hiện hành vi phạm tội, tiếp tay cho tệ nạn ma túy phát triển; gây mất trật tự trị an, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Nên việc đưa các bị cáo ra xét xử công khai, xử lý nghiêm, tương xứng với tính chất mức độ phạm tội của các bị cáo mới có tác dụng răn đe, giáo dục các bị cáo đồng thời tuyên truyền phòng ngừa chung. Đối với các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội độc lập nên phải chịu trách nhiệm về hành vi phạm tội của mình.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Đối với bị cáo Đặng Văn P thời điểm phạm tội dưới 18 tuổi; nên được áp dụng không quá ¾ mức hình phạt tù mà điều luật quy định, thể hiện chính sách nhân đạo của nhà nước đối với người dưới 18 tuổi phạm tội.

Về hình phạt bổ sung: tại khoản 5 Điều 251 của Bộ luật Hình sự quy định người phạm tội còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, xét bị cáo P khi phạm tội chưa đủ 18 tuổi; bị cáo M không có việc làm, thu nhập không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Về vật chứng gồm:

- Số ma túy cần sa sau giám định hoàn lại đã được niêm phong theo đúng quy định của pháp luật và 01 (một) balo màu đen bên ngoài ghi chữ “aizm” là vật nhà nước cấm và vật không giá trị cần tịch thu tiêu hủy.

- 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu vàng, số IMEI: 358359066524024, bên trong lắp 01 sim số 0328.984.023 (điện thoại của Đặng Văn P); 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu trắng (Điện thoại của Ngô Văn M). Điện thoại cũ đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng máy bên trong, thu giữ của các bị cáo sử dụng dùng vào việc phạm tội, cần tịch thu sung ngân sách nhà nước.

- Đối với số tiền ngân hàng nhà nước Việt Nam 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) thu giữ của Ngô Văn M có được do phạm tội mà có nên cần tịch thu, sung ngân sách nhà nước.

- Đối với số tiền 150.000 đồng của Ngô Văn M và số tiền 100.000 đồng của Đặng Văn P do bán ma túy mà có các bị cáo đã sử dụng hết nay cần truy thu sung ngân sách nhà nước.

Về lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát: xét những chứng cứ mà Kiểm sát viên dùng để chứng minh hành vi phạm tội của các bị cáo đã được cơ quan điều tra thu thập theo đúng trình tự, thủ tục mà Bộ luật tố tụng Hình sự quy định; tại phiên tòa các bị cáo cũng đã thừa nhận thực hiện hành vi như bản cáo trạng của Viện kiểm sát nên lời buộc tội của Kiểm sát viên về tội danh, khung hình phạt, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo là có căn cứ, được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí: các bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: các bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Liên quan trong vụ án có đối tượng bán ma túy cho Ngô Văn M, quá trình điều tra không xác định được lai lịch, địa chỉ nên không có căn cứ để xử lý.

Đối với Nguyễn Thanh Tùng có hành vi mua cần sa của Đặng Văn P để sử dụng, tuy nhiên số ma túy mua đã sử dụng hết, còn giao dịch ngày 14/9/2022 chưa thực hiện được, nên Công an thành phố Móng Cái đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Trần Thị H và Đỗ Đức B có lời khai tại cơ quan điều tra thể hiện: Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RS BKS 16M7-8578 được chị Hoa mua năm 2020 tại cửa hàng xe máy cũ Quang Sáng ở khu 7, phường Hải Yên, thành phố Móng Cái. Chị Hoa cho con trai là Đặng Văn P mượn xe để phục vụ việc giao hàng của P, chị Hoa không biết P dùng xe để mua bán ma túy. Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream BKS 14K1-067.58 thuộc sở hữu của anh Đỗ Đức B (anh rể của M) mua năm 1999, ngày 14/9/2022 M mượn xe trên của anh Bình để sử dụng nhưng anh Bình không biết M sử dụng xe vào việc mua bán ma túy, hiện anh Bình và chị Hoa đã nhận lại các xe mô tô trên và không có ý kiến gì nên Hội đồng xét xử không đề cập xử lý.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố các bị cáo: Ngô Văn M và Đặng Văn P

Phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”

- Áp dụng: điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự:

Xử phạt: Ngô Văn M 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 14/9/2022.

- Áp dụng: điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 91; khoản 1 Điều 101 Bộ luật hình sự:

Xử phạt: Đặng Văn P 05 (năm) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 14/9/2022.

2. Về xử lý vật chứng: áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 1, khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy: số ma túy cần sa sau giám định hoàn lại đã được niêm phong theo đúng quy định của pháp luật. Bên ngoài hộp ghi: “Công an tỉnh Quảng Ninh. Phòng kỹ thuật hình sự. Mẫu vật hoàn lại kèm theo kết luận giám định số 1601/KL-KTHS ngày 29/9/2022 vụ Ngô Văn M” và 01 (một) balo màu đen bên ngoài ghi chữ “aizm”.

- Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu vàng, số IMEI: 358359066524024, bên trong lắp 01 sim số 0328.984.023 (điện thoại của Đặng Văn P); 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu trắng (Điện thoại của Ngô Văn M) và số tiền ngân hàng nhà nước Việt Nam 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) (theo biên bản bàn giao, tiếp nhận tài sản để bảo quản số: 02/BBBQ-CSĐT ngày 11/01/2023 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Móng Cái và Kho bạc nhà nước Móng Cái).

(Vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng số: 57/2023/THA ngày 09/02/2023, tại Chi cục Thi hành án Dân sự, thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh).

Truy thu của Ngô Văn M số tiền 150.000đ (một trăm năm mươi nghìn đồng), của Đặng Văn P số tiền 100.000đ (một trăm nghìn đồng) do phạm tội mà có sung ngân sách nhà nước.

3. Về án phí: áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc các bị cáo Ngô Văn M, Đặng Văn P mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: áp dụng khoản 1,4 Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự:

Án xử công khai sơ thẩm có mặt các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Báo cho các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan biết có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ