- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đỗ Thị N - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tịch thu, tiêu hủy số ma túy hoàn lại sau giám định theo niêm phong số 1912/KL-KTHS ngày 30/11/2022 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh; trả lại bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105 màu xanh đã qua sử dụng, gắn sim số 0347.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐÔNG TRIỀU TỈNH QUẢNG NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 25/2023/HS-ST Ngày: 31-3-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐÔNG TRIỀU, TỈNH QUẢNG NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Cường
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Giới và ông Trần Văn Nam.
Thư ký phiên tòa: Bà Phùng Thị Oanh - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đông Triều tham gia phiên tòa: Ông Bùi Đức Trọng - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 3 năm 2023, tại phòng xử án Tòa án nhân dân thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 21/2023/TLST-HS ngày 07 tháng 3 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 19/2023/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 3 năm 2023 đối với bị cáo:
Họ và tên Đỗ Thị N, tên gọi khác không; sinh ngày 13/8/1983, tại Đông Triều, Quảng Ninh. Nơi thường trú tổ 2, khu V, phường M, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp lao động tự do; Trình độ học vấn 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Văn T và bà Phạm Thị N; Chồng là Đinh Quốc H đã ly hôn, có hai con, con lớn sinh năm 2005, con nhỏ sinh năm 2011; tiền án không, tiền sự không; Nhân thân năm 2013 bị Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xử phạt 08 năm tù về tội tàng trữ trái phép chất ma túy, chấp hành xong bản án ngày 28/01/2019; bị bắt quả tang ngày 25/11/2022; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/11/2022 đến nay, có mặt.
- Người làm chứng: Chị Nguyễn Thị T sinh năm 1962, nơi thường trú tổ 1, khu Vĩnh Lâm, phường Mạo Khê, thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt.
- Người chứng kiến:
1/ Ông Phạm Công Đ sinh năm 1970, nơi thường trú tổ 1, khu Vĩnh Lâm, phường Mạo Khê, thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt.
2/ Ông Đào Việt H sinh năm 1962, nơi thường trú tổ 3, khu Vĩnh Lâm, phường Mạo Khê, thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 08 giờ 20 phút ngày 25/11/2022 tại khu vực đường dân sinh thuộc tổ 4, khu Hòa Bình, phường Mạo Khê, thị xã Đông Triều, tổ công tác Công an phường Mạo Khê phát hiện hai người phụ nữ đang đứng đưa gì đó cho nhau trên đường, sau đó người phụ nữ đưa đồ đi bộ về một căn nhà gần đó còn người phụ nữ nhận đồ thì đi bộ rời đi. Tổ công tác tiến hành kiểm tra người phụ nữ rời đi thì phát hiện người phụ nữ này ném một vật gì đó từ lòng bàn tay trái xuống nền đường chỗ người phụ nữ đang đứng. Quá trình kiểm tra lực lượng Công an phát hiện ở dưới nền đường cách chỗ người phụ nữ đứng khoảng một mét có một gói giấy, bên trong gói giấy chứa chất bột màu trắng nghi là ma túy và một mảnh giấy màu xám rơi gần đó. Tại chỗ người phụ nữ khai nhận tên là Đỗ Thị N sinh ngày 13/8/1983, nơi thường trú tổ 2, khu V, phường M, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh, bị cáo cho biết số chất bột màu trắng chứa trong gói giấy rơi ở trên nền đường nói trên là ma túy Heroine của bị cáo mua về với mục đích để sử dụng, còn mảnh giấy màu xám là giấy bọc ngoài gói giấy chứa ma túy của bị cáo.
Vật chứng vụ án: một gói giấy bên trong chứa chất bột màu trắng ngà là Heroine (Diacetylmorphine); 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105 màu xanh, điện thoại đã qua sử dụng; 01 kim tiêm đã qua sử dụng; 01 lọ nước cất chưa sử dụng; 01 mảnh giấy màu xám.
Quá trình giải quyết vụ án, cơ quan điều tra Công an thị xã Đông Triều đã tiêu hủy 01 kim tiêm đã qua sử dụng; 01 lọ nước cất chưa sử dụng; 01 mảnh giấy màu xám theo biên bản tiêu hủy ngày 20/02/2023.
Theo Kết luận giám định số 1912/KL-KTHS ngày 30/11/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Quảng Ninh kết luận: Chất bột màu trắng ngà gửi giám định là ma túy, loại Heroine (Diacetylmorphine); khối lượng 0.173 gam (không phẩy một bảy ba gam).
(Heroine nằm trong Danh mục IA, STT:09; Nghị định số 57/2022/NĐ-CP, ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất).
Quá trình điều tra, bị cáo Đỗ Thị N khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên. Về nguồn gốc số ma túy, bị cáo khai: khoảng 08 giờ ngày 25 tháng 11 năm 2022 do có nhu cầu sử dụng heroine nên bị cáo thuê xe đi sang khu vực cầu Đá Bạc gặp và thỏa thuận mua của một người đàn ông 100.000đ (một trăm nghìn đồng) tiền ma túy Heroine. Sau khi mua được bị cáo cầm trên tay trái rồi thuê xe đi về nhà, khi về gần đến nhà bị cáo xuống xe đi bộ đến đoạn đường dân sinh thuộc khu Hòa Bình thì bị Công an kiểm tra, do hoảng sợ bị cáo đã ném gói giấy chứa ma túy trên tay xuống nền đường cách vị trí bị cáo đứng một mét thì bị bắt quả tang, thu giữ vật chứng.
Người làm chứng chị Nguyễn Thị T có lời trình bày khoảng 07 giờ 30 phút ngày 25/11/2022 chị Thủy vào nhà anh Ngọc ở khu Vĩnh Lâm cho gà ăn thì nhận được điện thoại của chị Hà hỏi về chưa thì chị Thủy nói là chưa về. Đến khoảng 8 giờ chị T về đến cổng nhà thì gặp H, H đưa chị T 100.000 đồng trong đó trả nợ chị Thủy 50.000 đồng và nhờ chị T đi chợ mua hộ 50.000 đồng tiền thức ăn. Chị Thủy cầm tiền xong thì về nhà còn H đi bộ ra phía đường dân sinh đâu chị không rõ, tại Công an làm việc chị Thủy mới biết Hà tên thật là Đỗ Thị N.
Những người chứng kiến ông Đào Việt H và ông Phạm Công Đ cùng có lời trình bày vào khoảng 08 giờ 20 phút ngày 25/11/2022 tại khu vực đường dân sinh thuộc tổ 4, khu Hòa Bình, phường Mạo Khê các ông được chứng kiến việc lực lượng Công an tiến hành kiểm tra, bắt quả tang một phụ nữ có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Quá trình kiểm tra lực lượng công an phát hiện ở dưới nền đường cách chỗ người phụ nữ đứng khoảng một mét có một gói giấy chứa chất bột màu trắng nghi ma túy và một mảnh giấy mà xám rơi gần đó. Tại chỗ người phụ nữ khai nhận tên là Đỗ Thị N sinh ngày 13/8/1983, nơi thường trú tổ 2, khu V, phường M, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh, bị cáo cho biết số chất bột màu trắng chứa trong gói giấy rơi ở trên nền đường nói trên là ma túy Heroine của bị cáo mua về với mục đích để sử dụng, còn mảnh giấy màu xám là giấy bọc ngoài gói giấy chứa ma túy của bị cáo. Bản Cáo trạng số 22/CT-VKS-ĐT ngày 02-3-2023 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đông Triều đã truy tố Đỗ Thị N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đông Triều giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như nội dung bản cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Đỗ Thị N từ 15 tháng đến 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 25/11/2022, không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo; Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 46; điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự đề nghị tịch thu, tiêu hủy vật chứng là số ma túy hoàn lại sau giám định theo niêm phong số 1912/KL-KTHS ngày 30/11/2022; trả lại bị cáo 01 điện thoại nhãn hiệu Nokia 105 màu xanh.
Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội và tội danh như Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đông Triều đã truy tố là đúng, bị cáo không có ý kiến tranh luận với luận tội của Kiểm sát viên, không tự bào chữa, và ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo nói lời sau cùng, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an thị xã Đông Triều, của Điều tra viên, của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Đông Triều, của Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định hay tài liệu chứng cứ của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng và các tài liệu, chứng cứ được thu thập sử dụng tại phiên tòa của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tội danh và điều luật Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đông Triều truy tố đối với bị cáo: tại phiên tòa bị cáo Đỗ Thị N khai báo thành khẩn về hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang do Công an phường Mạo Khê lập hồi 08 giờ 30 phút ngày 25/11/2022, phù hợp với vật chứng thu giữ, phù hợp với lời khai của những người chứng kiến, bản kết luận giám định số 1912/KL-KTHS ngày 30/11/2022 của phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Quảng Ninh cùng với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra và công bố công khai tại phiên tòa đã có đủ cơ sở xác định: vào khoảng 08 giờ 20 phút ngày 25/11/2022 tại khu vực đường dân sinh thuộc tổ 4, khu Hòa Bình, phường Mạo Khê, thị xã Đông Triều, Công an phường Mạo Khê phát hiện, bắt quả tang Đỗ Thị N có hành vi tàng trữ trái phép 0.173 gam (không phẩy một bảy ba gam) Heroine (Diacetylmorphine). Bị cáo Đỗ Thị N nhận thức được hành vi tàng trữ chất ma túy là vi phạm pháp luật, tuy nhiên do mục đích để thỏa mãn nhu cầu sử dụng ma túy của bản thân nên bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Như vậy đã đủ cơ sở kết luận bị cáo Đỗ Thị N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết định khung hình phạt: xét thấy trong vụ án này, bị cáo Đỗ Thị N có hành vi tàng trữ ma túy để sử dụng cho bản thân, lượng ma túy là 0.173 gam (không phẩy một bảy ba gam) Heroine (Diacetylmorphine). Như vậy hành vi phạm tội của bị cáo phải chịu trách nhiệm theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự như luận tội của kiểm sát viên tại phiên tòa đối với bị cáo là có căn cứ, khách quan, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Xét nhân thân của bị cáo cho thấy: năm 2013 bị Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xử phạt 08 năm tù về tội tàng trữ trái phép chất ma túy, chấp hành xong bản án ngày 28/01/2019, bị cáo là người trưởng thành có nhận thức xã hội và nhận thức pháp luật, bị cáo tàng trữ trái phép chất ma túy với mục đích sử dụng cho bản thân, là thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý.
Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Đánh giá tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội và gây mất an ninh trật tự tại địa phương, nhất là trong tình hình hiện nay, tệ nạn ma túy đang là hiểm họa lớn cho xã hội, gây nguy hại đến sức khỏe, đời sống của con người, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe cho người sử dụng và là nguyên nhân dẫn đến các loại tội phạm khác.
Về hình phạt:
Sau khi xem xét tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, cần phải xử phạt bị cáo với một mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội và phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian, nhằm giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
Ngoài hình phạt chính, lẽ ra cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự, nhưng bị cáo tàng trữ ma túy để sử dụng không có mục đích kiếm lời, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng và các vấn đề khác:
Số ma túy được hoàn lại sau giám định trong niêm phong số: 1912/KL-KTHS ngày 30/11/2022 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh là vật cấm tàng trữ, lưu hành cần tịch thu, tiêu hủy; đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105 màu xanh đã qua sử dụng, gắn sim số 0347.556.892 bị cáo không sử dụng vào việc phạm tội, xét thấy đây là tài sản hợp pháp của bị cáo nên cần trả lại cho bị cáo.
Quá trình điều tra, cơ quan điều tra Công an thị xã Đông Triều đã tiêu hủy 01 kim tiêm đã qua sử dụng, 01 lọ nước cất chưa sử dụng, 01 mảnh giấy màu xám theo biên bản tiêu hủy ngày 20/02/2023, nên Hội đồng xét không đề cập xử lý.
Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho bị cáo và người điều khiển xe mô tô chở bị cáo đi mua ma túy theo bị cáo khai, quá trình điều tra không xác định được lai lịch, địa chỉ, nên không có căn cứ để xử lý.
Về án phí: bị cáo là người bị kết án, nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại các Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Đỗ Thị N phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Đỗ Thị N 15 (mười lăm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 25/11/2022.
2. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 46; các điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; các điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự:
Tịch thu, tiêu hủy số ma túy hoàn lại sau giám định theo niêm phong số 1912/KL-KTHS ngày 30/11/2022 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh; trả lại bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105 màu xanh đã qua sử dụng, gắn sim số 0347.556.892.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng số 41, ngày 06/3/2023 giữa Công an thị xã Đông Triều và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Đông Triều)
3. Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Đỗ Thị N phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Căn cứ Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, Bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn là 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Quảng Ninh; - VKSND tỉnh Quảng Ninh; - VKSND thị xã Đông Triều; - Cơ quan điều tra Công an thị xã Đông Triều; - Công an thị xã Đông Triều; - Cơ quan THAHS Công an thị xã Đông Triều; - Trại tạm giam Công an tỉnh Quảng Ninh (Nơi đang giam giữ bị cáo); - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Ninh; - Chi cục THADS thị xã Đông Triều; - Bị cáo; - Lưu: Hồ sơ vụ án, Văn phòng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Mạnh Cường |