vanban.org

Bản án 25/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang Tuyên án 22/02/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về điều luật áp dụng và hình phạt:

1. Áp dụng khoản 1, 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt: Bị cáo Giáp Văn T 03 (ba) năm tù, về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ tạm giam (ngày 15/9/2022). Phạt bổ sung đối với bị cáo Giáp Văn T số tiền 5.000.000 đồng … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Giáp Văn Tài " Tàng trữ ma túy" - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về điều luật áp dụng và hình phạt:
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 251 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ BẮC GIANG
TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 25/2023/HS-ST
Ngày: 22/02/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Trần Kiên.

Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Tư;

Bà Hoàng Thị Hồng.

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Thế Thiện – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Việt Anh – Kiểm sát viên.

Trong ngày 22 tháng 02 năm 2023, tại điểm cầu Trung tâm Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang và điểm cầu thành phần Trại giam Công an tỉnh Bắc Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 235/2022/TLST-HS, ngày 30 tháng 12 năm 2022, theo Quyết định hoãn phiên tòa số: 04/2023/HSST-QĐ ngày 16 tháng 01 năm 2023, Thông báo không mở phiên tòa đúng thời gian ấn định số: 85/2023/TB-TA ngày 13/02/2023, đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Giáp Văn T, sinh năm 1991; nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: Thôn T, xã T, huyện L, tỉnh B; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Giáp Văn Th, sinh năm 1958 (đã chết) và bà Dương Thị M, sinh năm 1960; vợ: Nguyễn Thị Th, sinh năm 1997; con: Có 03 con, lớn nhất sinh năm 2009, nhỏ nhất sinh năm 2019; tiền sự: Không có; tiền án: Không có; nhân thân: Bản án số: 19/2015/HS-ST ngày 31/3/2015 của Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang xử phạt 10 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 20/01/2014 bị Công an phường Trần Nguyên Hãn, thành phố Bắc Giang xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Ngày 07/4/2017 bị Công an huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang xử phạt hành chính về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/9/2022, hiện đang tạm giam tại Trại giam Công an tỉnh Bắc Giang (có mặt tại phiên tòa).

2. Họ và tên: Ngô Văn T, sinh năm 1958; nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: SN 19, đường C, phường L, thành phố B, tỉnh B; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 4/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ngô Văn Ng (đã chết) và bà Đỗ Thị C (đã chết); vợ: Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1958 (đã ly hôn); con: Có 03 con, lớn nhất sinh năm 1976, nhỏ nhất sinh năm 1980; tiền sự: Không có; tiền án: Không có; nhân thân: Bản án hình sự sơ thẩm số 304 ngày 23/12/1998, Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xử phạt 03 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/9/2022, hiện đang tạm giam tại Trại giam Công an tỉnh Bắc Giang (vắng mặt tại phiên tòa, có đơn đề nghị xét xử và được Hội đồng xét xử chấp nhận).

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

1. Anh La A B, sinh năm 1977; nơi cư trú: SN 33, đường N, phường t, thành phố B (vắng mặt tại phiên tòa);

2. Chị Giáp Thị M, sinh năm 1984; nơi cư trú: SN 26, đường V, phường T, thành phố B (vắng mặt tại phiên tòa);

3. Chị Nguyễn Thị Th, sinh năm 1997; nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện L, tỉnh B (vắng mặt tại phiên tòa).

- Người chứng kiến:

1. Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1954; nơi cư trú: SN 26, đường V, phường T, thành phố B (vắng mặt tại phiên tòa);

2. Ông Đỗ Trọng T, sinh năm 1950; nơi cư trú: Số nhà 95, đường Q, phường T, thành phố B (vắng mặt tại phiên tòa);

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 10 giờ 20 phút ngày 15/9/2022 tại khu vực đường Nguyễn Văn Mẫn kéo dài cạnh công viên Ngô Gia Tự thuộc tổ dân phố Hoàng Hoa Thám, phường Trần Phú, thành phố Bắc Giang, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố Bắc Giang bắt quả tang Giáp Văn T có hành vi mua bán trái phép chất ma tuý. Tang vật thu giữ gồm:

- 01 gói giấy bạc có 02 mặt đều màu trắng bạc, kiểm tra bên trong đựng chất cục bột màu trắng- nghi là ma túy phát hiện thu giữ tại nền đất cạnh vị trí Giáp Văn T đứng do Tài thả rơi từ tay trái xuống khi bị bắt, được cho vào 01 phong bì thư ký hiệu “QT1” dán kín niêm phong.

- 01 túi nilon màu trắng, một đầu có rãnh khóa nhựa và viền màu đỏ, bên trong đựng 05 gói giấy bạc trong đó có 01 gói giấy bạc có một mặt màu vàng, một mặt màu trắng và 02 gói giấy bạc có hai mặt đều màu trắng bạc, bên trong mỗi gói đều đựng chất cục bột màu trắng- đều nghi là ma túy; 02 gói giấy bạc trong đó có 01 gói có 02 mặt đều màu trắng bạc và 01 gói có 02 mặt màu xám, bên trong mỗi gói đều đựng mảnh viên nén màu hồng đỏ- đều nghi là ma túy. 05 gói giấy bạc trong đó 04 gói giấy bạc đều có một mặt màu vàng một mặt màu trắng, 01 gói giấy bạc có 02 mặt đều màu trắng bạc, bên trong mỗi gói đều đựng chất cục bột màu trắng- đều nghi là ma túy. Tất cả đều phát hiện thu giữ trong bao thuốc lá nhãn hiệu “THĂNG LONG” màu vàng để trong túi đeo màu đen của Giáp Văn T đang đeo trên người khi bị bắt, được cho vào 01 phong bì thư ký hiệu “QT2” dán kín niêm phong.

- 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius biển kiểm soát 98M1-092.89; kiểm tra xe không phát hiện thu giữ đồ vật, tài sản gì.

- 01 ví da màu nâu bên trong có 01 căn cước công dân mang tên Giáp Văn T, 01 đăng ký xe mô tô biển kiểm soát 98M1-092.89, số tiền 1.000.000 đồng;

- 01 túi đeo màu đen bên trong đựng nhiều vỏ túi nilon màu trắng, một đầu có rãnh khóa nhựa, nhiều mảnh giấy bạc; số tiền 350.000 đồng trong đó số tiền 100.000 đồng do Giáp Văn T vừa bán ma túy mà có; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S màu ghi xám, số IMEI 355430077810414.

Cùng ngày, Cơ quan điều tra khám xét nơi ở của Giáp Văn T không phát hiện, thu giữ đồ vật, tài liệu liên quan đến ma túy.

Về nguồn gốc số ma túy đã thu giữ: Giáp Văn T khai mua của Ngô Văn T. Căn cứ lời khai của Tài, ngày 15/9/2022 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Bắc Giang khám xét khẩn cấp nơi ở của Ngô Văn T. Kết quả như sau:

- Khám xét tại nơi ở của Ngô Văn T không phát hiện, thu giữ đồ vật, tài liệu liên quan đến ma túy

- Khám xét tại kho trường Trần Luận, đường Cô Bắc, phường Lê Lợi, thành phố Bắc Giang (là quán bán nước) đã thu giữ:

+ Kiểm tra bên trong ví da màu đen của Ngô Văn T phát hiện, thu giữ 01 gói giấy loại giấy báo, các mặt đều có chữ và số, mở ra kiểm tra bên trong đựng 02 túi nilon màu trắng đều có rãnh khóa nhựa và viền màu đỏ, mở ra bên trong mỗi túi nilon đều đựng chất cục bột màu trắng đều nghi là ma túy được cho vào 01 phong bì thư ký hiệu “KX01” niêm phong dán kín.

+ 01 ví da màu đen bên trong có một chứng minh thư mang tên Ngô Văn T, 01 đăng ký xe mô tô số 032215.

+ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 5S màu trắng đã vỡ màn hình có số IMEI 358759050827335 lắp sim số 0865.907.430 (bút lục 44-45).

Cơ quan điều tra đã ra lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp đối với Ngô Văn T về hành vi tàng trữ trái phép chết ma túy; trưng cầu giám định số vật chứng nghi là ma túy đã thu giữ của Giáp Văn T khi bắt quả tang và số vật chứng nghi là ma túy thu giữ của Ngô Văn T khi khám xét.

Kết luận giám định số 1657/KL – KTHS ngày 19/9/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc giang kết luận:

“Trong 01 (một) phong bì ký hiệu “QT1” đã được niêm phong gửi giám định:

- Chất cục bột màu trắng đựng trong 01 (một) gói giấy bạc có hai mặt đều màu màu trắng bạc là ma tuý, có khối lượng 0,065 gam, loại Heroine.

Trong 01 (một) phong bì ký hiệu “QT2” đã được niêm phong gửi giám định:

* Trong 01 (một) vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu “THĂNG LONG” màu vàng:

- Trong 01 (một) túi ni lon màu trắng, một đầu có rãnh khóa nhựa và viền màu đỏ:

+ Chất cục bột màu trắng đựng trong 03 (ba) gói giấy bạc (trong đó 01 (một) gói giấy bạc một mặt màu vàng, một mặt màu trắng và 02 (hai) gói giấy bạc có hai mặt đều màu trắng bạc) đều là ma túy, có tổng khối lượng 0,939 gam, loại Heroine.

+ 02 (hai) mảnh viên nén màu hồng đỏ đựng trong 02 (hai) gói giấy bạc (trong đó 01 (một) gói giấy bạc hai mặt đều màu trắng bạc và 01 (một) gói giấy bạc hai mặt đều màu xám) đều là ma túy, có tổng khối lượng 0,107 gam, loại Methamphetamine.

- Chất cục bột màu trắng đựng trong 05 (năm) gói giấy bạc (trong đó 04 (bốn) gói giấy bạc đều có một mặt màu vàng, một mặt màu trắng và 01 (một) gói giấy bạc hai mặt đều màu trắng bạc”) đều là ma túy, có tổng khối lượng 0,317 gam, loại Heroine.

Trong một phong bì ký hiệu “KX01” đã được niêm phong gửi giám định :

- Trong một gói giấy loại giấy báo, các mặt đều có chữ và số: Chất cục bột màu trắng đựng trong 02 (hai) túi ni lon màu trắng đều có rãnh khóa nhựa và viền màu đỏ đều là ma túy, có tổng khối lượng 5,657 gam, loại Heroine.

Tại bản Cáo trạng số: 19/CT-VKS ngày 30/12/2022 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố, tỉnh Bắc Giang truy tố bị cáo Giáp Văn T về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”, theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự. Bị cáo Ngô Văn T về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo điểm g khoản 2 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà:

Các bị cáo khai nhận:

- Bị cáo Giáp Văn T: Buổi trưa ngày 14/9/2022, bị cáo điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius biển kiểm soát 98M1-092.89 đi đến quán nước của Ngô Văn T tại kho của trường Trần Luận trên đường Cô Bắc, phường Lê Lợi, thành phố Bắc Giang mục đích để mua ma túy sử dụng cho bản thân và bán cho người khác. Bị cáo hỏi mua của bị cáo Thắng 1.000.000 đồng thì được bị cáo Thắng đưa cho 10 gói ma túy Heroine và 02 gói ma túy tổng hợp. Bị cáo đem số ma túy trên về nhà cất giấu. Bị cáo chia 02 gói ma túy Heroine thành 05 gói nhỏ sau đó sử dụng hết 03 gói. Bị cáo cất số ma túy còn lại trong vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu “THĂNG LONG” để trong túi đeo màu đen. Khoảng 10 giờ ngày 15/9/2022, bị cáo điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius biển kiểm soát 98M1-092.89 mang theo số ma túy trên đi từ nhà đến thành phố Bắc Giang mục đích nếu có ai hỏi mua ma túy thì sẽ bán. Trên đường đi, bị cáo nhận được cuộc gọi điện của La A B hỏi mua ma túy. Bị cáo và hẹn gặp nhau tại khu vực công viên Ngô Gia Tự, thành phố Bắc Giang để giao ma túy. Sau đó, bị cáo đến điểm hẹn bán cho Bắc một gói ma túy Heroin với giá 100.000 đồng. Bị cáo cầm 01 gói ma túy, tiếp tục điều khiển xe đi xung quanh khu vực công viên Ngô Gia Tự mục đích tìm gặp người hỏi mua ma túy thì bán. Khi đi đến khu vực đường Nguyễn Văn Mẫn kéo dài thì bị Công an thành phố Bắc Giang bắt quả tang. Nay bị cáo thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Đề nghị xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.

- Bị cáo Ngô Văn T: Buổi sáng ngày 15/9/2022, bị cáo đi đến khu vực bờ đê Chi Ly, phường Trần Phú mua ma túy để sử dụng vì bị cáo nghiện chất ma túy. Tại đây, bị cáo gặp và mua của một người đàn ông không quen biết 2.800.000 đồng ma túy, loại Heroine. Sau đó, bị cáo Thắng đi đến quán bán nước của chị Giáp Thị M (là con dâu của bị cáo Thắng và là chị gái của bị cáo Tài) tại kho trường Trần Luận, đường Cô Bắc, phường Lê Lợi, thành phố Bắc Giang để phụ giúp bán hàng sau đó bị Công an thành phố Bắc Giang khám xét thu giữ số ma túy này. Bị cáo không bán ma túy cho bị cáo Tài. Nay bị cáo thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Đề nghị xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

Anh La A B có lời khai xác định: Buổi sáng ngày 15/9/2022 có mua 100.000 đồng ma túy Heroin của bị cáo Tài tại khu vực cạnh công viên Ngô Gia Tự sau đó đã sử dụng hết. Anh đã bị Công an thành phố Bắc Giang xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý. Nay, anh không có ý kiến gì.

Chị Nguyễn Thị Thu Minh xác định: Chị là vợ của bị cáo Tài. Chiếc xe mô tô biển kiểm soát 98M1-092.89 là của chị mua lại từ năm 2018. Ngày 10/9/2022, chị cho chồng mượn xe để đi làm, không biết chồng chị sử dụng làm phương tiện mua bán trái chép chất ma túy. Nay chị đề nghị được nhận lại chiếc xe để sử dụng.

Chị Giáp Thị M: Chị là chị gái của bị cáo Tài và là con dâu của bị cáo Thắng. Việc em trai chị mua bán trái phép chất ma túy và bố chồng chị tàng trữ trái phép ma túy thế nào thì chị không biết. Đăng ký xe mô tô số 032215 mà Công an thu của bố chồng chị là của chị, do trước đó chị cho mượn xe mô tô và đăng ký. Nay chị đề nghị được nhận lại để sử dụng.

Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên toà sau khi phân tích tính chất, nội dung hành vi phạm tội, nhân thân của các bị cáo, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo vẫn giữ nguyên về tội danh, đề nghị Hội đồng xét xử:

1. Về điều luật áp dụng và hình phạt:

Áp dụng khoản 1, 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt: Bị cáo Giáp Văn T từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ tạm giam (ngày 15/9/2022). Phạt bổ sung từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng.

Áp dụng điềm g khoản 2, 5 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt: Bị cáo Ngô Văn T từ 05 năm đến 05 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ tạm giam (ngày 15/9/2022). Phạt bổ sung từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng.

2. Về vật chứng:

Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, xử lý về vật chứng:

- Tịch thu tiêu hủy:

03 phong bì đựng mẫu vật hoàn lại sau giám định;

01 túi đeo màu đen, bên trong đựng nhiều vỏ túi nilon màu trắng, một đầu có rãnh khóa nhựa, nhiều mảnh giấy bạc.

- Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước của Giáp Văn T: Số tiền 100.000 đồng trong tổng số tiền 1.350.000 đồng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S màu ghi xám, số IMEI 355430077810414.

- Trả lại cho:

Giáp Văn T: 01 ví da màu nâu, bên trong có 01 căn cước công dân và số tiền 1.250.000 đồng, nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án;

Ngô Văn T: 01 ví da màu đen, bên trong có một chứng minh thư mang tên Ngô Văn T; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 5S màu trắng đã vỡ màn hình có số IMEI 358759050827335 lắp sim số 0865.907.430, , nhưng tạm giữa để đảm bảo thi hành án;

Chị Nguyễn Thị Thu Minh: 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius biển kiểm soát 98M1-092.89 và 01 đăng ký xe.

Chị Giáp Thị M: 01 đăng ký xe mô tô số 032215.

Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ Điều 12, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, buộc bị cáo Giáp Văn T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Miễn án phí cho bị cáo Ngô Văn T.

Phần tranh luận: Bị cáo Giáp Văn T không có ý kiến tranh luận.

Lời nói sau cùng: Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Bắc Giang, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

. Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Bị cáo có vắng mặt có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người chứng kiến vắng mặt không vì lý do bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Việc vắng mặt không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án, nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử theo điểm c khoản 2 Điều 290, khoản 1 Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự.

. Về tội danh:

Sau khi xem xét lời khai của các bị cáo, lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người chứng kiến có trong hồ sơ cũng như tại phiên toà, biên bản bắt người phạm tội quả tang, bản kết luận giám định ma tuý của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bắc Giang, cũng như tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận định:

Khoảng hơn 10 giờ ngày 15/9/2022 tại khu vực công viên Ngô Gia Tự thuộc tổ dân phố Hoàng Hoa Thám, phường Trần Phú, thành phố Bắc Giang; Giáp Văn T có hành vi bán trái phép 01 gói ma túy Heroine cho La A B với giá 100.000 đồng. Bị cáo Tài tiếp tục điều khiển xe mô tô đi quanh khu vực công viên Ngô Gia Tự mục đích để bán ma túy thì bị Công an thành phố Bắc Giang bắt quả tang, thu giữ 1,321 gam ma túy Heroine và 0,107 gam ma túy Methamphetamine.

Ngày 15/9/2022, Cơ quan điều tra khám xét quán bán nước của gia đình Ngô Văn T tại khu vực kho trường Trần Luận, đường Cô Bắc, phường Lê Lợi, thành phố Bắc Giang đã thu giữ của Ngô Văn T 5,657 gam ma túy Heroine.

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm sự độc quyền quản lý về ma tuý của Nhà nước.

Các bị cáo có năng lực chịu trách nhiệm hình sự.

Như vậy, đã có đủ cơ sở để kết luận:

Bị cáo Giáp Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự, quy định: “1. Người nào mua bán trái phép chất ma tuý, thì bị phạt từ từ 02 năm đến 07 năm”.

Bị cáo Ngô Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự, quy định: “2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:

g) Heroine có khối lượng từ 05 gam đến dưới 30 gam”.

Do đó, Cáo trạng số: 19/CT-VKS ngày 30/12/2022 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang truy tố đối với các bị cáo Giáp Văn T và Ngô Văn T là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

. Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng theo quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.

. Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan Điều tra, cũng như tại phiên toà, các bị cáo tỏ ra ăn năn hối cải, thành khẩn khai báo. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để áp dụng cho bị cáo theo điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Hội đồng xét xử thấy cần bắt các bị cáo phải cách ly xã hội một thời gian, để giáo dục các bị cáo, theo Điều 38 của Bộ luật hình sự.

. Về hình phạt bổ sung: Cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 và khoản 5 Điều 251 của Bộ luật hình sự.

. Các vấn đề khác:

7.1. Theo bị cáo Tài khai thì buổi trưa ngày 14/9/2022, tại quán nước của Ngô Văn T có địa chỉ tại kho của trường Trần Luận trên đường Cô Bắc, phường Lê Lợi, thành phố Bắc Giang, bị cáo Tài mua của bị cáo Thắng 1.000.000 đồng Heroine và ma túy tổng hợp. Bị cáo Thắng khai không thừa nhận bán ma túy cho bị cáo Tài. Cơ quan điều tra đã cho các bị cáo đối chất nhưng hai bên giữ nguyên lời khai. Kết quả xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể của Ngô Văn T dương tính với ma túy MOR. Kiểm tra điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 5S màu trắng lắp sim số 0865.907.430 thu giữ của Ngô Văn T không phát hiện các nội dung liên quan vi phạm pháp luật. Cơ quan điều tra kết luận ngoài lời khai của Tài thì không có tài liệu nào khác nên không đủ căn cứ xác định bị cáo Thắng bán ma túy cho bị cáo Tài. Hội đồng xét xử không xem xét trong vụ án này.

7.2. Đối với Giáp Văn T và La A B có hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý đã bị Công an thành phố Bắc Giang quyết định xử phạt vi phạm hành chính, Hội đồng xét xử thấy là có căn cứ.

7.3. Đối với chị Giáp Thị M khai không biết Tài xuống quán nước và có gặp Thắng hay không; chị Miên không biết Thắng tàng trữ trái phép chất ma túy nên Cơ quan điều tra không xử lý, Hội đồng xét xử thấy là có căn cứ.

. Về xử lý vật chứng của vụ án:

Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, b khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, xử lý về vật chứng:

- Tịch thu tiêu hủy:

03 phong bì đựng mẫu vật hoàn lại sau giám định;

01 túi đeo màu đen, bên trong đựng nhiều vỏ túi nilon màu trắng, một đầu có rãnh khóa nhựa, nhiều mảnh giấy bạc.

- Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước của Giáp Văn T:

Số tiền 100.000 đồng trong tổng số tiền 1.350.000 đồng;

01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S màu ghi xám, số IMEI 355430077810414.

- Trả lại cho:

Giáp Văn T: 01 ví da màu nâu, bên trong có 01 căn cước công dân mang tên Giáp Văn T và số tiền 1.250.000 đồng, nhưng tạm giữa để đảm bảo thi hành án;

Ngô Văn T: 01 ví da màu đen, bên trong có một chứng minh thư mang tên Ngô Văn T; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 5S màu trắng đã vỡ màn hình có số IMEI 358759050827335 lắp sim số 0865.907.430, nhưng tạm giữa để đảm bảo thi hành án;

Chị Nguyễn Thị Thu Minh: 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius biển kiểm soát 98M1-092.89 và 01 đăng ký xe.

Chị Giáp Thị M: 01 đăng ký xe mô tô số 032215.

. Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ Điều 12, Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, buộc bị cáo Giáp Văn T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Miễn án phí cho bị cáo Ngô Văn T.

. Tạm giam các bị cáo 45 ngày, kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án theo Điều 329 của Bộ luật tố tụng hình sự.

. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự, để Hội đồng xét xử tuyên quyền kháng cáo.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về điều luật áp dụng và hình phạt:

1.1. Áp dụng khoản 1, 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt: Bị cáo Giáp Văn T 03 (ba) năm tù, về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ tạm giam (ngày 15/9/2022).

Phạt bổ sung đối với bị cáo Giáp Văn T số tiền 5.000.000 đồng (năm triệu đồng) để sung vào ngân sách nhà nước.

1.2. Áp dụng điềm g khoản 2, 5 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt: Bị cáo Ngô Văn T 05 (năm) năm tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ tạm giam (ngày 15/9/2022).

Phạt bổ sung đối với bị cáo Ngô Văn T số tiền 5.000.000 đồng (năm triệu đồng) để sung vào ngân sách nhà nước.

2. Về vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, b khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

- Tịch thu tiêu hủy:

03 phong bì đựng mẫu vật hoàn lại sau giám định;

01 túi đeo màu đen, bên trong đựng nhiều vỏ túi nilon màu trắng, một đầu có rãnh khóa nhựa, nhiều mảnh giấy bạc.

- Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước của Giáp Văn T:

Số tiền 100.000 đồng trong tổng số tiền 1.350.000 đồng;

01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S màu ghi xám, số IMEI 355430077810414.

- Trả lại cho:

Giáp Văn T: 01 ví da màu nâu, bên trong có 01 căn cước công dân và số tiền 1.250.000 đồng, nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án;

Ngô Văn T: 01 ví da màu đen, bên trong có một chứng minh thư mang tên Ngô Văn T; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 5S màu trắng đã vỡ màn hình có số IMEI 358759050827335 lắp sim số 0865.907.430, nhưng tạm giữa để đảm bảo thi hành án;

Chị Nguyễn Thị Thu Minh: 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius biển kiểm soát 98M1-092.89 và 01 đăng ký xe.

Chị Giáp Thị M: 01 đăng ký xe mô tô số 032215.

3. Án phí: Áp dụng Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội; Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự: Buộc bị cáo Giáp Văn T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm; miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Ngô Văn T.

Báo cho các bị cáo có mặt biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được tống đạt bản án.

Cỡ chữ