- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lừu Thị M - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lừu Thị M phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÀO CAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 25/2023/HS-ST Ngày 25/5/ 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÀO CAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lương Văn Đài.
Thẩm phán: Ông Vũ Minh Quán.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Sần Quang Sơn; Ông Trần Ngọc Đính; Ông Đặng Tiến Dũng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thu Hằng - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lào Cai tham gia phiên tòa: Ông Phạm Văn Huỳnh - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 5 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 10/2023/TLST-HS ngày 23/3/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 14/2023/QĐXXST-HS ngày 08/5/2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lừu Thị M (Tên gọi khác: Không). Sinh ngày 30 tháng 4 năm 1983 tại huyện C2, tỉnh Lào Cai. Nơi cư trú: Thôn C, xã C1, huyện C2, tỉnh Lào Cai; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ văn hóa: Không biết chữ; Dân tộc: Mông; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lừu Seo P và bà Giàng Thị P1; Có chồng là Vàng A S và có 02 con, con lớn sinh năm 2005, nhỏ sinh năm 2007; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/11/2022, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Lào Cai. Có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Lê Trường S1 – Luật sư Công ty Luật hợp danh Thủy Vỹ, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Lào Cai. Có mặt.
- Người phiên dịch tiếng H’mông: Anh Châu A G. Địa chỉ: Xã H, thị xã P2, tỉnh Lào Cai. Có mặt.
- Người chứng kiến: Ông Cư Seo S2, sinh năm 1987. Địa chỉ: Thôn C, xã C1, huyện C2, tỉnh Lào Cai. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, vụ án được tóm tắt như sau:
Thông qua mạng Facebook khoảng tháng 8 năm 2022, Lừu Thị M làm quen với người đàn ông quốc tịch Lào tên là C3 (Không biết nơi cư trú). C3 bảo M bán hộ 04 bọc ma túy với giá 95 triệu đồng/1 bọc, tổng 04 bọc là 380 triệu đồng. Khi nào bán được ma tuý C3 sẽ cho người đến lấy tiền. M đồng ý và cho C3 số điện thoại, C3 gửi ma tuý bằng xe khách cho M đến thị trấn C2, huyện C2 để tránh bị lực lượng chức năng phát hiện. Đến sáng ngày 23/11/2022, M một mình điều khiển xe mô tô 24B2-845.27 đi từ nhà đến gần cửa hàng xăng dầu thuộc thị trấn C2 nhận 01 hộp catton bọc kín, bên trong chứa ma tuý do xe khách chuyển đến. M mang hộp catton đi được khoảng 04 km, đến chỗ vắng người dừng lại ở ven đường xé bỏ vỏ hộp catton, bên trong có 01 bao tải chứa 04 bọc ma tuý. M giấu bao tải chứa ma túy vào bụi cây ven đường rồi đi về nhà. Đến khoảng 14 giờ cùng ngày 23/11/2022, M trao đổi qua điện thoại với người mua ma tuý tên Ma Seo Chinh (không biết địa chỉ cụ thể) ở huyện Bảo Yên và thống nhất bán 04 bọc ma tuý với giá 100 triệu đồng/01 bọc, (04 bọc là 400 triệu đồng), hẹn địa điểm mua bán ma tuý tại khu vực thôn Chu Liền Chải, xã Quan Hồ Thẩn, huyện C2. Sau đó, M điều khiển xe mô tô 24B2-845.27 đi từ nhà đến lấy bao tải chứa 04 bọc ma tuý giấu ở bụi cây ven đường rồi điều khiển xe đến điểm hẹn để bán ma túy nhưng chưa kịp bán thì bị Công an tỉnh Lào Cai và Công an huyện C2 phát hiện. Kiểm tra tại giá để hàng treo giữa xe là một bao tải xác rắn, bên trong có túi nilon màu đen chứa 04 bọc nilon, dán kín các mép M khai nhận là ma túy. Công an lập biên bản bắt người thu giữ, niêm phong vật chứng của M do phạm tội quả tang.
Tại bản kết luận giám định số: 322/KL-GĐMT ngày 30/11/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai kết luận: 04 mẫu của các cục tinh thể rắn, màu trắng được đóng thành bánh thu giữ của Lừu Thị M khi bị bắt quả tang ngày 23/11/2022 có tổng khối lượng là 3.958,99 (Ba ngàn chín trăm năm mươi tám phẩy chín chín) gam đều là loại chất ma tuý Methamphetamine; Ngoài ra còn thu giữ của M: 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA, ARIBALADE biển kiểm soát 24B2-845.27; 01 điện thoại di động nhãn hiệu VIVO; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel đã qua sử dụng và 150.000 đồng M nhận là tài sản công cụ dùng vào việc mua bán ma túy.
Tại Bản cáo trạng số 08/CT-VKS-P1 ngày 22/3/2023 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lào Cai đã truy tố Lừu Thị M về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 4 Điều 251 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa sơ thẩm:
Bị cáo Lừu Thị M đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lào Cai giữ quyền công tố qua xét xử phát biểu quan điểm luận tội: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lừu Thị M phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm b khoản 4 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo Lừu Thị M mức án tử hình, không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Về vật chứng: đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: tịch thu tiêu hủy số vật chứng thu giữ còn lại sau giám định là là 3. 923,76 gam chất Methamphetamine; tịch thu nộp ngân sách nhà nước chiếc xe máy 24B2-845.27; 01 điện thoại di động VIVO; 01 điện thoại di động Masstel là phương tiện dùng vào việc phạm tội và tạm giữ số tiền 150. 000đ để đảm bảo cho thi hành án. Đề nghị tuyên án phí và quyền kháng cáo cho bị cáo.
Người bào chữa cho bị cáo Lừu Thị M trình bày quan điểm bào chữa: Nhất trí với bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát về tội danh và điều luật áp dụng đối với bị cáo. Tuy nhiên, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, bị cáo là người dân tộc thiểu số nên nhận thức pháp luật còn hạn chế, hoàn cảnh kinh tế khó khăn, phải nuôi hai con ăn học. Việc bị cáo mua bán ma túy là làm theo đề nghị của người khác để lấy tiền chênh lệch. Vì vậy, đề nghị áp dụng điểm b khoản 4 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo mức án tù chung thân. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bào chữa cho bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội:
Lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa đều phù hợp với các lời khai và biên bản phạm tội bắt người phạm tội quả tang; Kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, đủ căn cứ để khẳng định: Vào khoảng 14 giờ 35 phút ngày 23/11/2022, Lừu Thị M một mình tự điều khiển xe mô tô 24B2-845.27 mang theo bao tải chứa 04 bọc ma tuý đi bán cho người đàn ông tên Ma Seo Chinh ở huyện Bảo Yên. Khi đang đi trên đường liên xã thuộc địa phận Thôn Chu Liền Chải, xã Quan Hồ Thẩn, huyện C2 thì bị Công an bắt và thu giữ 3.958,99 (Ba ngàn chín trăm năm mươi tám phẩy chín chín) gam chất ma túy Methamphetamine trong bao tải treo trên giá giữa xe của M.
Hành vi của bị cáo Lừu Thị M đã cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” với tình tiết định khung “Heroine, Cocaine, Methamphetamine,... có khối lượng 100 gam trở lên”. Vì vậy, Cáo trạng số 08/CT-VKS-P1 ngày 22/3/2023 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lào Cai truy tố bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 4 điều 251 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Về trách nhiệm hình sự
Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội
Bị cáo Lừu Thị M là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Mặc dù biết rõ các hành vi tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép các chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng do hám lời, ngày 23/11/2022 bị cáo đã thực hiện hành vi mua bán trái phép 3.958,99 gam Methamphetamine.
Hành vi phạm tội của bị cáo Lừu Thị M thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng, đã xâm phạm vào chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về ma túy được pháp luật bảo vệ; hành vi đó gây mất trật tự trị an tại địa phương, gây hoang mang trong quần C3 nhân dân. Do đó, cần phải xử phạt bị cáo với mức án thật nghiêm khắc để phát huy tác dụng đấu tranh, giáo dục, phòng ngừa và ngăn chặn các tội phạm khác.
. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Lừu Thị M không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi bị bắt và trong quá trình điều tra, bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình với thái độ ăn năn hối cải. Tại phiên tòa sơ thẩm, mặc dù ban đầu bị cáo quanh co cho rằng không biết 04 bọc nilon chứa ma túy nhưng bị cáo cũng thừa nhận việc đã nhận 04 bọc nilon này từ một người đàn ông tên C3 và mang bán cho người đàn ông tên Ma Seo Chinh ở huyện Bảo Yên để kiếm lời. Vì vậy, Hội đồng xét xử vẫn cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Căn cứ vào tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo Lừu Thị M mua bán trái phép chất ma túy với khối lượng đặc biệt lớn, cần phải loại bỏ bị cáo ra khỏi đời sống xã hội để làm bài học cho công tác đấu tranh phòng chống tội phạm.
Đối với ý kiến của người bào chữa: Đề nghị xử phạt bị cáo mức án tù chung thân là nhẹ, không tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, không đảm bảo tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm chung nên không được chấp nhận.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo có điều kiện kinh tế khó khăn nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Những đối tượng khác liên quan trong vụ án
Đối với người đàn ông tên là C3, quốc tịch Lào bị cáo khai gửi 3.958,99 gam chất ma túy Methamphetamine qua xe khách để bị cáo mang về bán lấy tiền và người đàn ông mua ma túy bị cáo khai tên là Ma Seo Chinh ở huyện Bảo Yên, do không rõ danh tính và địa chỉ. Cơ quan Điều tra cũng không thu thập được tài liệu, chứng cứ nào khác để làm rõ về hai đối tượng này có liên quan đến số ma túy của M nên không có căn cứ xem xét, xử lý.
Về xử lý vật chứng:
- Đối với 3. 923,76 gam Methamphetamine còn lại sau trích mẫu giám định và các mảnh nilon gói bên ngoài của mỗi bọc, các túi nilon, bao tải xác rắn: đây là vật Nhà nước cấm lưu hành và vật chứng không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA AIRBLADE biển kiểm soát 24B2-845.27; 01 điện thoại di động nhãn hiệu VIVO; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel: Đây là các công cụ, phương tiện bị cáo sử dụng vào hành vi phạm tội nên cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
- Đối với số tiền 150.000 đồng thu giữ của bị cáo: Đây là tài sản của bị cáo M không liên quan phạm tội nhưng cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án dân sự.
. Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo Lừu Thị M phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm b khoản 4 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Lừu Thị M Tử hình. Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.
* Về vật chứng: Căn cứ vào khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự;
- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) hộp niêm phong được dán kín xung quanh bằng giấy trắng. Tại mép dán của hộp niêm phong có chữ ký của các bên tham gia niêm phong, hình dấu tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai và được án phủ bằng băng dính trong suốt. Trên một mặt của hộp niêm phong có dán tờ giấy in dòng chữ “Vật chứng còn lại sau trích mẫu giám định nghi là ma túy của Lừu Thị M phát hiện tại thôn Chu Liền Chải, xã Quan Hồ Thẩn, huyện C2, tỉnh Lào Cai và thu giữ khi lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Lừu Thị M tại thôn Mào Sao Chải, xã Sín Chéng, huyện C2, tỉnh Lào Cai ngày 23/11/2022”. Bên trong niêm phong chứa 3.923,76 gam Methamphetamine và các mảnh nilon gói bên ngoài của mỗi bọc, túi nilon màu đen, túi nilon màu vàng, bao tải xác rắn. Niêm phong còn nguyên vẹn đúng quy định.
- Tịch thu nộp ngân sách nhà nước của bị cáo Lừu Thị M:
+ 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA AIRBLADE biển kiểm soát 24B2-845.27, số khung RLHJF6320KZ101511, số máy; JF63E-2517109, không có gương bên trái, xe cũ đã qua sử dụng, không khởi động được, không kiểm tra chi tiết bên trong;
+ 01 điện thoại di động nhãn hiệu VIVO có số IMEI 1: 860062049884934 kèm thẻ sim, điện thoại cũ đã qua sử dụng, không kiểm tra chi tiết bên trong;
+ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel có số IMEI: 352377064261270, kèm thẻ sim, điện thoại cũ đã qua sử dụng, không kiểm tra chi tiết bên trong;
- Tạm giữ để đảm bảo thi hành án của Lừu Thị M: Số tiền 150.000 (Một trăm năm mươi nghìn) đồng.
(Vật chứng là tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, hiện đang được gửi trong tài khoản số 3949.0.9051074 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Lào Cai tại Kho bạc Nhà nước tỉnh Lào Cai, theo giấy nộp tiền vào tài khoản lập ngày 13/2/2023. Những vật chứng còn lại được mô tả theo biên bản giao, nhận vật chứng số 31, ngày 23/3/2023 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Lào Cai và Cục Thi hành án dân sự tỉnh Lào Cai).
* Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án: buộc bị cáo Lừu Thị M phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, bị cáo được quyền gửi đơn xin ân giảm án lên Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND cấp cao; - VKSND cấp cao; - VKSND tỉnh; - Phòng hồ sơ CA tỉnh; - CQCSĐT Công an tỉnh; - CQTHAHS Công an tỉnh; - Sở Tư pháp tỉnh; - Trại tạm giam Lào Cai; - Bị cáo; - Người bào chữa; - THA Tòa án; - Lưu Hồ sơ vụ án./. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lương Văn Đài |