vanban.org

Bản án 25/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái Tuyên án 19/07/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Triệu Văn A phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Về hình phạt: Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 260, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt Triệu Văn A 03 (Ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính ngày bị cáo bị bắt tạm giam (ngày 01 tháng 02 năm 2023). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Triệu Văn A - Phạm tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ". - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều…"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Triệu Văn A phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 260 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VĂN YÊN
TỈNH YÊN BÁI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 25/2023/HS-ST
Ngày: 19-7-2023

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN YÊN - TỈNH YÊN BÁI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hương

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trần Hoài Sơn;

2. Ông Vũ Mạnh Hùng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Tiến Thành - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Công Thi - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 18/2023/TLST-HS ngày 20 tháng 6 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 21/2023/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 7 năm 2023, đối với bị cáo:

Họ và tên: Triệu Văn A, sinh ngày 15 tháng 9 năm 1980 tại huyện VY, tỉnh Yên Bái;

Nơi cư trú: Thôn N, xã M, huyện VY, tỉnh Yên Bái; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 2/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Triệu Văn K (đã chết) và bà Hoàng Thị E; có vợ: Hoàng Thị N và có 02 người con (con lớn sinh năm 2003 và con nhỏ sinh năm 2009): tiền án: Không, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 01 tháng 02 năm 2023, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện VY, tỉnh Yên Bái; có mặt.

- Bị hại: Ông Thiều Tiến L, sinh năm 1957;

Địa chỉ: Thôn M, xã Q, huyện VY, tỉnh Yên Bái; vắng mặt.

* Người đại diện theo uỷ quyền của bị hại: Anh Thiều Ton T, sinh năm 1991;

Địa chỉ: Thôn M, xã Q, huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái; có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Chị Hoàng Thị Ng, sinh năm 1982;

Địa chỉ: Thôn N, xã M, huyện VY, tỉnh Yên Bái; có mặt.

* Những người tham gia tố tụng khác:

- Người làm chứng:

+ Anh Triệu Văn P, sinh năm 1986; vắng mặt.

+ Anh Thiều Ton C, sinh năm 1986; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11 giờ 40 phút ngày 06/10/2022, Triệu Văn A, sinh năm 1980, trú tại thôn N, xã M, huyện VY, tỉnh Yên Bái, sau khi ăn cơm uống rượu tại nhà anh Triệu Bàn L, trú tại thôn M, xã Q, huyện VY, tỉnh Yên Bái. Triệu Văn A điều khiển xe gắn máy Biển kiểm soát 21FA-014.81 đi về nhà theo đường liên xã Q-M. Khi đi đến đoạn đường thuộc địa phận thôn M, xã Q, huyện VY, tỉnh Yên Bái, Triệu Văn A điều khiển xe đi lấn sang phần đường ngược chiều và đâm va với xe mô tô Biển kiểm soát 21E1- 439.60 do ông Thiều Tiến L, sinh năm 1957, trú tại thôn M, xã Q, huyện VY, tỉnh Yên Bái điều khiển đi theo hướng M-Q. Hậu quả làm ông Thiều Tiến L bị thương phải đi cấp cứu, 02 phương tiện hư hỏng.

Tại biên bản khám nghiệm hiện trường lập hồi 12 giờ 30 phút ngày 06/10/2022 xác định: Địa điểm xảy ra tai nạn là đoạn đường liên xã Q-M thuộc địa phận thôn M xã Q, huyện VY, tỉnh Yên Bái; Tổ chức giao thông hai chiều xe chạy và vòng phải theo hướng Q-M (Khe G-N), lòng đường rộng 3.45m, mặt đường được dải nhựa bằng phẳng, lề đường hai bên rộng 1.3m; nơi xảy ra tai nạn không có biển báo hiệu giao thông đường bộ, hai bên đường không có nhà dân sinh sống. Dấu vết số 01 (dấu vết mảnh nhựa vỡ để lại hiện trường) được xác định là điểm va chạm giữa 02 xe, nằm bên phần đường bên trái theo hướng đi của Triệu Văn A (Q-M).

Tại biên bản khám nghiệm phương tiện lập hồi 13 giờ 20 phút, ngày 06/10/2022 đối với xe gắn máy biển kiểm soát 21FA-014.81 do Triệu Văn A điều khiển thể hiện: Xe không có gương chiếu hậu; Đèn chiếu sáng phía trước bị gãy bung rời khỏi xe; Ốp nhựa phía trước đầu xe bị gãy vỡ; Giá đỡ giỏ phía trước đầu xe bị mài trượt kim loại trên bề mặt có dính chất bột màu trắng; Cung chắn bùn phía trước bị mài trượt phần nhựa; Càng giảm sóc phía trước bên trái để lại vết màu nâu đỏ; Cần số tiến bị đẩy cong từ trước ra sau, trên bề mặt có dính vết màu nâu đỏ; Giá để chân trước bên trái bị đẩy cong từ trước ra sau, cạnh ngoài bị mài trượt lớp kim loại, trên bề mặt có dính chất bột màu trắng. Hệ thống điều khiển, hệ thống chiếu sáng bị hư hỏng không kiểm tra được.

Tại biên bản khám nghiệm phương tiện lập hồi 13 giờ 55 phút, ngày 06/10/2022 đối với xe mô tô biển kiểm soát 21E1-439.60 do ông Thiều Tiến L điều khiển thể hiện: Mặt gương chiếu hậu bên trái bị vỡ bung rời khỏi xe; Ốp nhựa phải đầu xe bị nứt vỡ; Vành bánh trước bên phải có vết mài trượt kim loại; Ốp sườn xe bên trái để lại vết màu nâu đỏ; Cần số bị đẩy cong gập từ trên xuống dưới, từ trước ra sau; Giá để chân trước bên trái bị đẩy cong gập từ trước ra sau. Hệ thống điều khiển, hãm hoạt động bình thường.

Tại biên bản đo nồng độ cồn số 00073 do Đội Cảnh sát giao thông - Trật tự Công an huyện VY lập hồi 13 giờ 05 phút ngày 06/10/2022 xác định nồng độ cồn trong hơi thở của Triệu Văn A là 0.401mg/L. Tại biên bản đo nồng độ cồn số 00076 do Đội Cảnh sát giao thông - Trật tự Công an huyện VY lập hồi 13 giờ 15 phút cùng ngày xác định nồng độ cồn trong hơi thở của ông Thiều Tiến L là 0.279mg/L.

Tại Bản kết luận giám định pháp về thương tích số 09, ngày 12/01/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh Yên Bái kết luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại của ông Thiều Tiến L là 78%; Cơ chế hình thành thương tích: Chấn thương sọ não, tụ máu nội sọ, vỡ xương sọ, gãy cung tiếp xương gò má, xương chính mũi, sẹo vùng mi mắt trái là do tác động hỗn hợp với vật tày một lực mạnh, theo hướng trực diện gây nên; Gãy đốt 1, ngón IV bàn tay trái, sẹo ngón IV bàn tay trái do tác động với vật tày một lực mạnh, theo hướng trực diện gây nên; Tổn thương xương bàn chân, ngón chân trái là do tác động với vật tày một lực mạnh, theo hướng trực diện gây nên.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 02 ngày 06/02/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái kết luận:

“Xe mô tô nhãn hiệu HONDA; Biển kiểm soát 21E1-439.60; Số loại WAVE; Màu sơn: trắng-đen-bạc; Số máy JA39E1242491; Số khung: 3913KY374668; Xe mô tô đã qua sử dụng và không có hóa đơn mua bán; giá trị thiệt hại của tài sản là 2.005.000 đồng”.

Về vật chứng của vụ án: 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA; Biển kiểm soát 21E1-439.60; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 031132; 01 giấy phép lái xe hạng A1 mang trên Thiều Tiến L, quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của ông Thiều Tiến L (bị hại trong vụ án) nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện VY đã trả lại chiếc xe cùng các giấy tờ liên quan cho người đại diện theo uỷ quyền của ông Thiều Tiến L là anh Thiều Ton T; Đối với 01 xe gắn máy Biển kiểm soát 21FA-014.81 được chuyển đến Cơ quan Thi hành án dân sự huyện VY, tỉnh Yên Bái để bảo quản và giải quyết theo quy định của pháp luật.

Về trách nhiệm dân sự: Người đại diện theo uỷ quyền của bị hại anh Thiều Ton T yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 80.000.000 đồng tiền chi phí điều trị thương tích cho ông Thiều Tiến L.

Cáo trạng số 19/CT-VKS-VY ngày 19/6/2023, của Viện kiểm sát nhân dân huyện VY, tỉnh Yên Bái đã truy tố bị cáo Triệu Văn A về tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự.

*Tại phiên tòa sơ thẩm:

Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã khai tại cơ quan điều tra.

Người đại diện theo uỷ quyền của bị hại thay đổi yêu cầu bồi thường, yêu cầu bị cáo Triệu Văn A bồi thường về phần trách nhiệm dân sự là 40.000.000 đồng ngoài ra không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Chị Hoàng Thị Ng, đề nghị được nhận lại 01 xe gắn máy Biển kiểm soát 21FA-014.81.

Người làm chứng khai báo những tình tiết liên quan đến vụ án như đã khai tại cơ quan điều tra.

- Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Triệu Văn A phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” và đề nghị:

+ Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 260, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Triệu Văn A từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam ngày 01/02/2023.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị Hội đồng xét xử công nhận sự thoả thuận giữa đại diện theo uỷ quyền của bị hại và bị cáo tại phiên toà. Buộc bị cáo phải bồi thường cho bị hại Thiều Tiến L số tiền 40.000.000 (Bốn mươi triệu) đồng.

Về vật chứng của vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự để xử lý vật chứng.

- Trả lại cho chị Hoàng Thị Ng 01 xe gắn máy Biển kiểm soát 21FA-014.81.

Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, miễn án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm cho bị cáo Triệu Văn A do bị cáo thuộc hộ cận nghèo.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện VY, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện VY, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với bản tự khai và lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, lời khai của người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác đã được thu thập trong hồ sơ vụ án và xem xét tại phiên tòa. Như vậy đã có đủ cơ sở xác định: Khoảng 11 giờ 40 phút ngày 06/10/2022, Triệu Văn A đã điều khiển xe gắn máy Biển kiểm soát 21FA-014.81 tham gia giao thông trên đường liên xã Q-M thuộc địa phận thôn M, xã Q, huyện V, tỉnh Yên Bái với tình trạng trong hơi thở có nồng độ cồn là 0.401mg/L, đi sai phần đường quy định dẫn đến đâm va vào xe mô tô Biển kiểm soát 21E1-439.60 do ông Thiều Tiến L điều khiển đi ngược chiều. Hậu quả ông Thiều Tiến L bị thương tích, tỷ lệ tổn thương cơ thể là 78% và gây thiệt hại về tài sản cho ông L là 2.005.000 đồng. Hành vi của bị cáo đã vi phạm khoản 8, Điều 8 Luật Giao thông đường bộ (được sửa đổi bổ sung tại khoản 1 Điều 35 Luật phòng chống tác hại của rượu, bia) và khoản 1 Điều 9 Luật Giao thông đường bộ.

Hành vi nêu trên của Triệu Văn A đã phạm vào tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm b, khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự.

Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện VY, tỉnh Yên Bái đã truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ, đã xâm phạm đến trật tự công cộng, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an, an toàn xã hội tại địa phương. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ được hành vi của mình nhưng do cẩu thả khi tham gia giao thông nên đã thực hiện hành vi phạm tội.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử thấy:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại phiên tòa cũng như tại cơ quan điều tra bị cáo đều thành khẩn khai báo nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.

Về nhân thân: Bị cáo không có tiền án, tiền sự.

Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử thấy, cần phải có mức hình phạt tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và cần phải áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo .

Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên toà đại diện theo uỷ quyền của bị hại và bị cáo đã thống nhất thoả thuận về bồi thường trách nhiệm dân sự, bị cáo bồi thường cho bị hại số tiền 40.000.000 đồng. Việc thỏa thuận bồi thường là hoàn toàn tự nguyện và không trái quy định của pháp luật nên cần ghi nhận sự thỏa thuận này.

Về vật chứng của vụ án: Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA; Biển kiểm soát 21E1-439.60; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 031132; 01 giấy phép lái xe hạng A1 mang trên Thiều Tiến L, quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của ông Thiều Tiến L nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện VY đã trả lại chiếc xe cùng các giấy tờ liên quan cho người đại diện theo uỷ quyền của ông Thiều Tiến L là anh Thiều Ton T là phù hợp.

- Đối với một xe máy Biển kiểm soát 21FA-014.81 thuộc quyền quản lý, sử dụng hợp pháp của bị cáo và chị Hoàng Thị N, đăng ký xe mang tên chị Hoàng Thị Ng. Chị Ng có nguyện vọng được nhận lại tài sản này để sử dụng. Hội đồng xét xử thấy hành vi phạm tội của bị cáo gây ra với lỗi vô ý, đây là tài sản chung của vợ chồng bị cáo và là phương tiện giao thông duy nhất của gia đình bị cáo, nếu tịch thu sẽ gây ảnh hưởng đến gia đình bị cáo, nên cần trả lại cho chị Hoàng Thị Ng là phù hợp.

Về án phí: Bị cáo thuộc hộ cận nghèo và tại phiên toà đề nghị được miễn án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm nên căn cứ quy định của pháp luật miễn án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm đối với bị cáo Triệu Văn A.

Đối với các vấn đề khác của vụ án: Ngày 06/10/2022, ông Thiều Tiến L điều khiển xe mô tô tham gia giao thông trong hơi thở có nồng độ cồn là 0.279mg/L. Xét thấy hành vi này của ông Thiều Tiến L đã vi phạm quy định tại điểm c, khoản 7 Điều 6 Nghị định 100/NĐ-CP ngày 30/12/2019 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt nên Cơ quan Cảnh sát điều tra có công văn chuyển đến Đội Cảnh sát Giao thông-Trật tự Công an huyện VY, tỉnh Yên Bái để xử phạt vi phạm hành chính đối với ông Thiều Tiến L là phù hợp.

Những nội dung đề nghị của Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện VY, tỉnh Yên Bái tại phiên toà phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử được chấp nhận.

Bị cáo, bị hại, đại diện theo uỷ quyền của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Triệu Văn A phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

2. Về hình phạt: Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 260, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt Triệu Văn A 03 (Ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính ngày bị cáo bị bắt tạm giam (ngày 01 tháng 02 năm 2023).

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Trả lại cho chị Hoàng Thị Ng 01 xe gắn máy biển kiểm soát 21FA-014.81 nhãn hiệu SANDABOSS, số loại BOS50, số máy: VHL139FMBSD001204, số khung: RMNDCBMN4JH001204;

(Vật chứng có đặc điểm theo biên bản giao nhận vật chứng số: 19 ngày 05 tháng 7 năm 2023 giữa Công an huyện VY, tỉnh Yên Bái và Chi cục Thi hành án dân sự huyện VY, tỉnh Yên Bái).

4. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 của Bộ luật Hình sự; các Điều 584, 585, 586, 590 Bộ luật Dân sự.

Công nhận sự thỏa thuận bồi thường giữa bị cáo và đại diện theo uỷ quyền của bị hại tại phiên tòa.

Bị cáo Triệu Văn A phải bồi thường cho bị hại Thiều Tiến L, số tiền 40.000.000 (Bốn mươi triệu) đồng.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và Điều 468 của Bộ luật Dân sự 2015.

5. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Triệu Văn A được miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm và miễn nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm.

6. Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Bị cáo, đại diện theo uỷ quyền của bị hại có mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án (phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình) trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Bị hại vắng mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ