vanban.org

Bản án 25/2023/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Yên Bái Tuyên án 13/09/2023 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 13/09/2023 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 và điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị …

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Tiến Th - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 và điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị …
  • Căn cứ chính? Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH YÊN BÁI
_____________

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 25/2023/HS-PT
Ngày 13-09-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH YÊN BÁI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Hữu Hải

Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Vân

Bà Đỗ Thu Hương

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Trang - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Yên Bái.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Yên Bái tham gia phiên toà: Bà Dương Thị Huế - Kiểm sát viên Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Yên Bái.

Ngày 13-09-2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Yên Bái, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 36/2023/TLPT-HS ngày 25-07-2023 đối với bị cáo Nguyễn Tiến Th, do bị cáo Nguyễn Tiến Th kháng cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 44/2023/HSST ngày 23-6-2023 của Tòa án nhân thành phố YB, tỉnh Yên Bái.

Bị cáo có kháng cáo: Nguyễn Tiến Th, tên gọi khác: không; sinh ngày 10-02-1983 tại tỉnh Yên Bái; nơi cư trú: Tổ Y, phường YN, thành phố YB, tỉnh Yên Bái; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Tiến T, sinh năm 1953 và bà: Nguyễn Thị Y, sinh năm 1953; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 10-12-2006 bị Công an quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội phạt tiền về hành vi tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có (đã chấp hành xong). Bị cáo bị bắt từ ngày 25-01-2023 đến ngày 02-02-2023 được thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú tại tổ Y, phường YN, thành phố YB, tỉnh Yên Bái, có mặt tại phiên toà.

- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Nguyễn Việt H là Luật sư Công ty luật TNHH quốc tế Hà Nội, có mặt tại phiên toà.

Ngoài ra, trong vụ án còn có bị cáo Hoàng Thế Th1 không kháng cáo, không có kháng nghị; người có nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Y không kháng cáo; người chứng kiến anh Lưu Đức Tr và anh Vũ Quốc T1 Tòa án không triệu tập đến phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 07 giờ, ngày 25-01-2023, Nguyễn Tiến Th đến phòng trọ của Hoàng Thế Th1 thuộc tổ X, phường ĐT, thành phố YB, tỉnh Yên Bái chơi, cả hai rủ nhau góp tiền mua ma tuý về sử dụng. Th1 góp 4.500.000 đồng, Th góp 2.500.000 đồng, tổng cộng là 7.000.000 đồng. Th1 mượn xe máy điện biển kiểm soát 21MĐ1-082.02 của Th, sau đó Th1 một mình đi ra khu vực phía sau chợ ga Yên Bái (thuộc tổ dân phố HP, phường H, thành phố YB, tỉnh Yên Bái) mua được của một người đàn ông không quen biết 04 túi ma tuý Ketamine khối lượng 2,93 gam và 07 viên ma tuý tổng hợp MDMA có khối lượng 3,5 gam với giá tiền 7.000.000 đồng. Th1 để ma tuý vào cốp xe máy điện mang về nhà trọ mục đích chia cho Th một nửa số ma tuý vừa mua được để mỗi người tự sử dụng. Khi Th1 về đến nhà trọ thì có anh Lưu Đức Tr, sinh năm 1987 đang có mặt tại phòng trọ cùng Th, nên Th1 vẫn để nguyên số ma tuý vừa mua được trong cốp xe máy điện rồi đi vào phòng trọ nói chuyện với Tr và Th. Th1 chưa kịp chia ma tuý cho Th thì bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố YB, tỉnh Yên Bái kiểm tra bắt quả tang.

- Vật chứng thu giữ gồm:

+ 01 bao thuốc lá thăng long màu vàng bên trong có 02 túi nilon màu trắng có khoá kẹp, trong đó 01 túi bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng; 01 túi chứa 07 viên nén màu cam (để trong cốp xe máy điện biển kiểm soát 21MĐ1-082.02 do Th1 giao nộp).

+ Thu giữ tại túi quần bên phải của Hoàng Thế Th1 một tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng có bám dính chất nghi là ma tuý.

+ Khám xét nơi ở thu giữ của Hoàng Thế Th1 01 đĩa sứ hình tròn màu trắng, trên mặt đĩa có bám dính chất tinh thể màu trắng.

Ngoài ra cơ quan điều tra còn thu giữ tiền, xe máy điện và một số đồ vật khác của bị cáo Th1 và bị cáo Th

- Tại bản Kết luận giám định số 90/GĐMT ngày 01-02-2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Yên Bái, kết luận:

+ Chất tinh thể màu trắng thu giữ khi bắt quả tang Hoàng Thế Th1 và Nguyễn Tiến Th có tổng khối lượng là 2,93 gam là ma tuý, loại Ketamine. Bảy viên nén màu cam thu giữ khi bắt quả tang Hoàng Thế Th1 và Nguyễn Tiến Th có tổng khối lượng là 3,5 gam là ma tuý, loại MDMA.

+ Chất màu trắng bám dính trên tờ tiền Việt Nam mệnh giá 500.000 đồng không xác định được khối lượng, không tìm thấy thành phần của chất ma tuý.

+ Chất tinh thể màu trắng có bám dính trên mặt đĩa sứ hình tròn màu trắng trong túi nilon màu xanh không xác định được khối lượng, không tìm thấy thành phần của chất ma tuý.

- Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 44/2023/HS-ST ngày 23-06-2023, Tòa án nhân dân thành phố YB, tỉnh Yên Bái đã quyết định:

+ Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tiến Th phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

+ Về hình phạt: Áp dụng điểm i khoản 1, Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt Nguyễn Tiến Th 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt đi thi hành án. Được khấu trừ từ ngày 25-01-2023 đến ngày 02-02-2023.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn xử phạt Hoàng Thế Th1 02 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; xử lý vật chứng, quyết định về án phí hình sự sơ thẩm, tuyên quyền kháng cáo và quyền yêu cầu thi hành án theo quy định của pháp luật.

Ngày 07-07-2023, bị cáo Nguyễn Tiến Th kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.

- Tại phiên tòa phúc thẩm:

+ Bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo.

+ Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Yên Bái phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án được tóm tắt như sau: Kháng cáo của bị cáo Nguyễn Tiến Th trong thời hạn luật định và hợp lệ nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm; phân tích, đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, khẳng định Tòa sơ thẩm xử phạt bị cáo 01 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù là tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng Hình sự, không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên mức hình phạt Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên đối với bị cáo Nguyễn Tiến Th.

+ Luật sư bào chữa cho bị cáo thống nhất về tội danh và đề nghị Hội đồng xét xử, ngoài tình tiết giảm nhẹ đã được cấp sơ thẩm áp dụng, xem xét áp dụng cho bị cáo Th hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ “người phạm tội tự thú” quy định tại điểm r khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự và cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ “Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng” theo điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, do chưa được cấp sơ thẩm áp dụng. Bị cáo Th có thể có 04 tình tiết giảm nhẹ, trong đó có 03 tình tiết giảm nhẹ quy đinh tại khoản 1, Điều 51 Bộ luật Hình sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, bị phạt tù dưới 03 năm nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận kháng cáo của bị cáo, áp dụng điều 54 Bộ luật Hình sự phạt dưới mức thấp nhất khung hình phạt (dưới 01 năm tù) và áp dụng điều 65 Bộ luật Hình sự cho bị cáo được hưởng án treo.

+ Khi được nói lời sau cùng, bị cáo Nguyễn Tiến Th đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo để bị cáo có cơ hội cải tạo trở thành công dân có ích cho xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Tiến Th nộp trong thời hạn luật định và hợp lệ nên được Hội đồng xét xử xem xét theo trình tự phúc thẩm. Chứng cứ, tài liệu do Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Cơ quan Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thu thập; do người tham gia tố tụng cung cấp đều được xem xét tại phiên tòa và đều hợp pháp.

Tại cấp phúc thẩm bị cáo Nguyễn Tiến Th thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm, phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, lập ngày 25-01-2023 (bút lục số 08), phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, nên Hội đồng xét xử phúc thẩm có đủ cơ sở kết luận: Vào hồi 09 giờ 20 phút ngày 25-01-2023, tại Tổ X, phường ĐT, thành phố YB, tỉnh Yên Bái, bị cáo Nguyễn Tiến Th đã có hành vi Tàng trữ trái phép 2,93 (hai phẩy chín ba) gam Ketamine và 3,5 (ba phẩy năm) gam MDMA thì bị Cơ quan Công an thành phố YB, tỉnh Yên Bái bắt quả tang. Với hành vi trên, bị cáo Th đã bị Tòa án nhân dân thành phố YB, tỉnh Yên Bái xét xử về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét đơn kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo của bị cáo, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không chỉ xâm phạm đến quyền quản lý của nhà nước về các chất ma túy, mà còn gây ảnh hưởng xấu đến nhiều mặt đời sống xã hội ở địa phương. Mức hình phạt 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên đối với bị cáo Nguyễn Tiến Th là thỏa đáng, tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội bị cáo gây ra; Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng đầy đủ tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo, cũng như xem xét nhân thân của bị cáo, nên kháng cáo của bị cáo không có cơ sở chấp nhận.

Tại phiên tòa phúc thẩm người bào chữa cho bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo hưởng 02 tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm i, r khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, đề nghị áp dụng điều 54 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo dưới mức thấp nhất khung hình phạt và áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự cho bị cáo được hưởng án treo. Hội đồng xét xử thấy rằng, bị cáo Th là người khởi xướng và đồng thuận góp tiền với bị cáo Th1 để bị cáo Th1 đi mua ma tuý, vai trò 02 bị cáo trong vụ án như nhau. Mặt khác, số ma tuý bị cáo Th góp tiền cùng bị cáo Th1 mua ma tuý về sử dụng nộp cho cơ quan điều tra khi đã bị cơ quan điều tra phát hiện có dấu hiệu tội ma tuý, kiểm tra và bắt quả tang, do vậy không có cơ sở chấp nhận đề nghị của người bào chữa về việc cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ tại điểm i, r khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự và áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự. Xét về nhân thân bị cáo, năm 2006 bị cáo đã bị xử phạt vi phạm hành chính, nay bị cáo phạm tội mới thuộc trường hợp nghiêm trọng nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận đề nghị của người bào chữa về việc cho bị cáo được hưởng án treo. Do đó, giữ nguyên quyết định của Bản án sơ thẩm như đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Yên Bái tại phiên tòa là phù hợp.

Do kháng cáo của bị cáo không được chấp nhận, nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm, không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015: Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Tiến Th, giữ nguyên Bản án sơ thẩm số: 44/2023/HSST ngày 23-06-2023 của Tòa án nhân dân thành phố YB, tỉnh Yên Bái.

Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt Nguyễn Tiến Th 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày đi thi hành án, được trừ 09 ngày tạm giữ (tạm giữ từ ngày 25-01-2023 đến ngày 02-02-2023)

2. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 và điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Nguyễn Tiến Th phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ