- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Anh S xin ly hôn chị H"
- Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí và lệ phí tòa án, xử:
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN DU TỈNH BẮC NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số 25/2023/HNGĐ-ST Ngày 12-7-2023 V/v tranh chấp hôn nhân và gia đình |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN DU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Xuân Phong
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Hữu Xuyên
Bà Lê Thị Xuân
- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Lụa
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tiên Du: Bà Nguyễn Hương Giang- Kiểm sát viên tham gia phiên toà.
Hôm nay, ngày 12 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tiên Du tiến hành xét xử sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số: 127/2023/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 4 năm 2023 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 28/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 08/6/2023 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 2000. Xin vắng mặt
Địa chỉ: Khu 5, phường Đ, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh
Bị đơn: Anh Trịnh Hữu Q, sinh năm 1992. Vắng mặt
Địa chỉ: Thôn H, xã L, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện và các lời khai tại Tòa án chị Nguyễn Thị H trình bày:
Chị kết hôn với anh Trịnh Hữu Q ngày 10/9/2019 và có đăng ký kết hôn tại UBND xã Lạc Vệ, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh. Trước khi kết hôn anh chị được tự do tìm hiểu và không bị ép buộc.
Quá trình chung sống vợ chồng thường xuyên bất đồng quan điểm hay cãi chửi nhau. Thỉnh thoảng anh Q còn bạo lực đánh chị. Đầu tháng 3/2023 chị bỏ về nhà mẹ đẻ sinh sống. Mấy ngày đầu anh Q có sang nhà chị nói chuyện nhưng vợ chồng lại cãi nhau. Sau đó anh Q không sang nhà chị nữa và chị cũng không về nhà chồng. Vợ chồng không còn liên lạc với nhau và hai bên gia đình cũng không có biện pháp gì để vợ chồng đoàn tụ. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Q.
Về con chung: Vợ chồng không có con chung.
Về tài sản chung: Không yêu cầu.
Về công nợ: Không yêu cầu.
Tòa án nhân dân huyện Tiên Du đã nhiều lần tống đạt cho anh Q nhưng anh Q không nhận văn bản tố tụng và không đến tòa án làm việc nên không thể lấy lời khai cũng như hòa giải vụ án được.
Tại phiên tòa hôm nay chị Nguyễn Thị H có đơn xin vắng mặt nhưng vẫn giữ nguyên quan điểm xin được ly hôn với anh Q.
Về con chung: Vợ chồng không có con chung nên không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.
Về tài sản chung, công nợ: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn anh Trịnh Hữu Q đã được Tòa án triệu tập hợp lệ 02 lần nhưng vẫn vắng mặt nên Tòa án vẫn tiến hành xét xử.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Du tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa; việc tuân theo pháp luật của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đảm bảo đúng quy định pháp luật. Đối với bị đơn vắng mặt tại quá trình giải quyết cũng như tại phiên tòa không có lý do nên chưa chấp hành đúng quy định của pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Du đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng Điều 28, 39, 147, 227 Bộ luật TTDS; Áp dụng Điều 51,56 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.
Về quan hệ hôn nhân: Cho chị H được ly hôn với anh Q.
Về con chung: Không xem xét, giải quyết.
Về tài sản chung, công nợ: Không yêu cầu nên không xem xét, giải quyết.
Về án phí: Chị Nguyễn Thị H phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, Tòa án nhận định:
. Về thủ tục tố tụng: Theo đơn khởi kiện và yêu cầu tại phiên tòa Hội đồng xét xử xác định đây là vụ án “Ly hôn” do nguyên đơn chị Nguyễn Thị H khởi kiện đối với bị đơn anh Trịnh Hữu Q, địa chỉ thôn Hương Vân, xã Lạc Vệ, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh. Căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh.
Tòa án nhân dân huyện Tiên Du đã ra Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 28/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 08/6/2023 thời gian xét xử được ấn định vào ngày 27/6/2023. Ngày 27/6/2023 phiên tòa phải hoãn vì lý do anh Q vắng mặt tại phiên tòa và phiên tòa được ấn định vào ngày 12/7/2023.
Tại phiên tòa hôm nay chị Nguyễn Thị H có đơn xin vắng mặt, anh Trịnh Hữu Q đã được Tòa án tống đạt hợp lệ nhưng vắng mặt. Do đó, căn cứ vào Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn xét xử vụ án theo thủ tục chung.
. Về nội dung:
2.1. Về quan hệ hôn nhân:
Chị Nguyễn Thị H kết hôn với Trịnh Hữu Q ngày 10/9/2019 và có đăng ký kết hôn tại UBND xã Lạc Vệ, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh theo đúng quy định của pháp luật là hôn nhân hợp pháp cần chấp nhận. Trước khi kết hôn hai bên được tự do tìm hiểu không bị ép buộc.
Về mâu thuẫn vợ chồng chị H trình bày do quá trình chung sống hai vợ không hợp nhau thường xuyên cãi chửi nhau, anh Q còn bạo lực đánh chị. Tháng 3/2023 chị bỏ về nhà mẹ đẻ sinh sống hai vợ chồng sống ly thân từ đó không còn quan hệ, không còn liên lạc với nhau. Anh Q đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng không hợp tác và không đến Tòa án làm việc. Qua xác minh ông Nguyễn Văn Vân là bố đẻ chị H cho biết tháng 3/2023 cháu H bỏ về nhà ông sinh sống và ông được biết mâu thuẫn vợ chồng cháu H là do cháu Q thường xuyên đánh cháu H. Cháu Q có sang nhà ông nói chuyện nhưng hai cháu không nói chuyện được với nhau, sau đó cháu Q không sang nhà ông nữa. Xét thấy, vợ chồng chị chị H, anh Q không còn quan tâm, chăm sóc đến nhau, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị H, giải quyết cho hai người được ly hôn để đảm bảo cuộc sống riêng của mỗi người là phù hợp với pháp luật.
2.2. Về con chung: Vợ chồng không có con chung nên không xem xét, giải quyết.
2.3. Về tài sản chung, công nợ: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
2.4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị H phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, 227, 228, 266, 271, 272 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.
Căn cứ Điều 51, 56, 57 Luật hôn nhân và gia đình;
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí và lệ phí tòa án, xử:
1. Về quan hệ vợ chồng: Chị Nguyễn Thị H được ly hôn anh Trịnh Hữu Q.
2. Về con chung: Vợ chồng không có con chung nên không xem xét, giải quyết.
3. Về tài sản chung, công nợ: Không xem xét, giải quyết.
4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị H phải chịu 300.000đ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm đã nộp 300.000đ theo biên lai thu số AA/2021/0002388 ngày 05/4/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tiên Du.
Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bắc Ninh; - VKSND tỉnh Bắc Ninh; - VKSND huyện Tiên Du - Chi cục THADS huyện Tiên Du; - UBND xã Lạc Vệ; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Nguyễn Thị Minh – Lê Thị Xuân | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Ngô Xuân Phong THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Xuân Phong |