- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn, nuôi con"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Hồng C về việc yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Phước T.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠNH TRỊ TỈNH SÓC TRĂNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 25/2023/HNGĐ-ST Ngày: 13-6-2023 “V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠNH TRỊ, TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Tuyết Kha.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Công Lý
Ông Ngô Văn Tân
- Thư ký phiên tòa: Bà Cao Mỹ Anh, Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Nguyệt Hân - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 6 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 69/2023/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 4 năm 2023, về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 51/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 30 tháng 5 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Lê Hồng C, sinh năm 1981 (có mặt)
Địa chỉ: Ấp B, thị trấn Hưng L, huyện Thạnh T, tỉnh Sóc Trăng.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Phước T, sinh năm 1980 (vắng mặt, có đơn)
Địa chỉ: Ấp B, thị trấn Hưng L, huyện Thạnh T, tỉnh Sóc Trăng.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 17-4-2023 và tại phiên tòa, nguyên đơn chị Lê Hồng C, trình bày: Chị và anh Nguyễn Phước T tổ chức tiệc cưới và đăng ký kết hôn ngày 17/12/2003 tại UBND xã Châu Hưng, huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng và đã được cấp giấy chứng nhận kết hôn, vợ chồng có 02 con chung tên Nguyễn Thị Ngọc M, sinh ngày 22/6/2002 và Nguyễn Phước T1, sinh ngày 29/3/2006. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc nhưng được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn cãi vã có nhiều lần hàn gắn nhưng không có kết quả nên vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2011. Chị C yêu cầu ly hôn với anh T, con chung là cháu M hiện đã trưởng thành tự chăm sóc cho bản thân nên không yêu cầu Tòa án giải quyết, còn cháu T1 thì giao cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng, chị C không phải cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung và nợ chung không có, không yêu cầu giải quyết.
Bị đơn anh Nguyễn Phước T vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt, theo biên bản lấy lời khai ngày 29/5/2023 (bút lục 22) anh T trình bày: Trong quá trình sống chung vợ chồng có 02 người con chung tên Nguyễn Thị Ngọc M, sinh ngày 22/6/2002 và Nguyễn Phước T1, sinh ngày 29/3/2006. Anh đồng ý ly hôn với chị C vì vợ chồng đã sống ly thân đã nhiều năm không còn tình cảm, về con chung cháu M hiện đã trưởng thành tự chăm sóc cho bản thân nên không yêu cầu Tòa án giải quyết, còn cháu T1 thì anh T yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng không yêu cầu chị C cấp dưỡng nuôi con, các vấn đề về tài sản chung, nợ chung không có nên không yêu cầu giải quyết.
Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa sơ thẩm:
Trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý đến trước thời điểm nghị án, Hội đồng xét xử, thư ký đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự, nguyên đơn có mặt tại phiên tòa, riêng bị đơn đã được tống đạt hợp lệ và có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt đúng quy định. Về nội dung đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị C được ly hôn với anh Nguyễn Phước T. Giao con chung tên Nguyễn Phước T1, sinh ngày 29/3/2006 cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng, chị C không phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung không có, không yêu cầu nên đề nghị hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về thủ tục tố tụng: Chị C khởi kiện yêu cầu ly hôn với bị đơn có nơi cư trú tại huyện Thạnh T, tỉnh Sóc Trăng nên Tòa án nhân dân huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng thụ lý và giải quyết là đúng theo qui định tại khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn anh T đã được triệu tập hợp lệ và có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt nên căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với bị đơn.
Về nội dung vụ án:
Về hôn nhân: Chị C và anh Nguyễn Phước T tự nguyện kết hôn, đăng ký kết hôn ngày 17/12/2003 và đã được UBND xã Châu H, huyện Thạnh T, tỉnh Sóc Trăng cấp giấy chứng nhận kết hôn nên xác định hôn nhân của họ là hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ. Khoản 1 Điều 51 Luật hôn nhân và gia đình quy định“Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn”, như vậy chị C có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn. Xét thấy, giữa vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình và sống chung với nhau nhưng hiện nay chị C và anh T đều thừa nhận đã sống ly thân một thời gian dài, không còn tình cảm, anh T đồng ý ly hôn, nên Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu của chị C được ly hôn với anh T.
Về con chung: Chị C và anh T đều thống nhất trong quá trình chung sống có hai người con chung tên Nguyễn Thị Ngọc M, sinh ngày 22/6/2002 và Nguyễn Phước T1, sinh ngày 29/3/2006, hiện nay cháu M đã trưởng thành tự chăm sóc cho bản thân nên chị C và anh T không yêu cầu giải quyết còn cháu T1, sinh ngày 29/3/2006 hiện đang sống với anh T, anh T có nguyện vọng muốn nuôi dưỡng cháu T1, cháu T1 có nguyện vọng sống chung với anh T, chị C đồng ý giao cháu T1 cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng, vì vậy Hội đồng xét xử có căn cứ giao cháu T1 cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng đến khi đủ 18 tuổi.
Về cấp dưỡng nuôi con các đương sự thống nhất không có không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự thống nhất không có không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn là 300.000 đồng, nguyên đơn Chị Lê Hồng C phải chịu theo quy định.
Qua phân tích như trên, xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát huyện Thạnh Trị là có cơ sở chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự. Khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Điểm a khoản 5 Điều 27 nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Hồng C về việc yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Phước T.
2. Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Phước T1, sinh ngày 29/3/2006 cho anh Nguyễn Phước T trực tiếp nuôi dưỡng đến khi đủ 18 tuổi, chị C không phải cấp dưỡng nuôi con, chị C có quyền thăm nom chăm sóc con chung không ai được cản trở.
3. Tài sản chung, nợ chung: Các đương sự thống nhất không có không yêu cầu giải quyết, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
4. Về án phí: Nguyên đơn chị Lê Hồng C phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn là 300.000 đồng, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0008106 ngày 17-4-2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Thạnh T, tỉnh Sóc Trăng. Anh T không phải chịu án phí.
Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày được tống đạt hợp lệ) để yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết lại theo thủ tục phúc thẩm.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Sóc Trăng; - VKSND huyện Thạnh Trị; - Chi cục THADS huyện Thạnh T; - UBND xã Châu H, huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Trần Thị Tuyết Kha |