- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị H Đ xin ly hôn anh Y W"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chị H Đ được ly hôn với anh Y W.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG PẮC TỈNH ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 25/2023/HNGĐ-ST Ngày 24 - 4 - 2023 V/v ly hôn, nuôi con. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG PẮC, TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Đình Nam
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Ngô Văn Tuyển, bà Trịnh Thị Oanh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nông Thị Lường – Là Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Thu Hương – Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 4 năm 2023 tại hội trường Tòa án nhân dân huyện Krông Pắc xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 47/2023/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 02 năm 2023 về việc “Ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 17/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 3 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa ngày 14 tháng 4 năm 2023, giữa:
1. Nguyên đơn: Chị H Đ, sinh năm 1989; địa chỉ: Xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk (Có mặt).
2. Bị đơn: Anh Y W, sinh năm 1987; địa chỉ: Xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện, quá trình tham gia tố tụng và tại phiên tòa nguyên đơn chị H Đ trình bày: Chị H Đ và anh Y W tự do tìm hiểu, yêu thương nhau và có đăng ký kết hôn vào ngày 04/5/2010 tại UBND xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk.
Quá trình chung sống vợ chồng hạnh phúc đến năm 2021 thì hay xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng là do anh Y W thường xuyên rượu chè, về nhà chửi bới và đánh đập chị H Đ. Vì các con chị H Đ đã cố gắng chịu đựng và khuyên bảo nhưng anh Y W không thay đổi. Nay chị H Đ nhận thấy mâu thuẫn đã rất trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài thêm được nữa. Nay chị H Đ làm đơn khởi kiện xin ly hôn với anh Y W.
Về con chung: Có 02 con chung là cháu Y Anh K, sinh ngày 21/11/2010; cháu H’ Bê L, sinh ngày 29/11/2015. Hiện nay các cháu đang sinh sống cùng chị H Đ nên chị H Đ có nguyện vọng được tiếp tục nuôi dưỡng cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Bị đơn anh Y W: Trong quá trình giải quyết vụ án đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng cố tình vắng mặt không tham gia tố tụng nên Tòa án không ghi được lời khai.
Qua biên bản xác minh ngày 10/3/2023 về tình trạng hôn nhân giữa chị H Đ và anh Y W thì Chính quyền địa phương cho biết: Trong thời gian khoảng 01 năm trở lại đây, anh Y W không chăm lo làm ăn mà thường xuyên uống rượu về gây sự với vợ con. Chị H Đ có nhờ Ban tự quản buôn can thiệp, hòa giải nhưng không có kết quả. Hiện nay hai vợ chồng đang sống ly thân.
* Ý kiến của Kiểm sát viên:
- Về tố tụng: Thẩm phán xác định đúng quan hệ pháp luật, thẩm quyền giải quyết vụ án; xác định đúng tư cách tham gia tố tụng của các đương sự; việc thu thập chứng cứ, trình tự giải quyết vụ án theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS).
Trong quá trình thụ lý, giải quyết, xét xử vụ án thì Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và nguyên đơn đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật. Bị đơn không chấp hành các quy định của Pháp luật.
- Về nội dung: Qua các tài liệu, chứng cứ thu thập trong hồ sơ vụ án, đề nghị HĐXX căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56; các Điều 58, 81, 82, 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Về hôn nhân: Chị H Đ được ly hôn với anh Y W. Về con chung: Giao con chung là cháu Y Anh K, sinh ngày 21/11/2010; cháu H’ Bê L, sinh ngày 29/11/2015 cho chị H Đ trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi các con chung đủ 18 tuổi. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị H Đ không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết. Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định:
Về tố tụng và quan hệ pháp luật cần giải quyết: Chị H Đ khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, nuôi con với anh Y W có nơi cư trú tại huyện K, tỉnh Đắk Lắk. Quan hệ pháp luật cần giải quyết là Ly hôn, nuôi con theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Krông Pắc theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Bị đơn anh Y W mặc dù Tòa án đã triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
Về nội dung:
Về hôn nhân: Chị H Đ với anh Y W tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã E, huyện K vào ngày 04 tháng 5 năm 2010. Hôn nhân của anh chị là hợp pháp, được pháp luật bảo vệ. Do vợ chồng tính tình không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, anh Y W thường xuyên rượu chè, về nhà chửi bới và đánh đập chị H Đ. Vợ chồng sống ly thân từ năm 2021 cho đến nay nhưng mâu thuẫn vợ chồng vẫn không khắc phục được. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhiều lần động viên chị H Đ trở lại đoàn tụ gia đình nhưng không thành. Tại phiên tòa chị H Đ vẫn giữ nguyên yêu cầu xin được ly hôn. Đối với anh Y W mặc dù Tòa án đã tống đạt hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn cố tình vắng mặt. HĐXX xét thấy, tình trạng vợ chồng đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, HĐXX cần giải quyết cho chị H Đ được ly hôn với anh Y W.
Về con chung: Có 02 con chung là cháu Y Anh K, sinh ngày 21/11/2010; cháu H’ Bê L, sinh ngày 29/11/2015. Chị H Đ có nguyện vọng nuôi dưỡng 02 con chung, HĐXX xét thấy, hiện nay các con đang chung sống cùng mẹ và đều có nguyện vọng được ở cùng mẹ. Do đó, xét yêu cầu của chị H Đ, để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con, nghĩa vụ của cha mẹ đối với con chưa thành niên. Căn cứ vào Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình, HĐXX cần giao cháu Y Anh K, cháu H’ Bê L cho chị H Đ nuôi dưỡng là phù hợp với pháp luật.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Quá trình giải quyết và tại phiên tòa chị H Đ đều không yêu cầu anh Y W cấp dưỡng nuôi con chung nên HĐXX không đặt ra xem xét, giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị H Đ không yêu cầu giải quyết nên HĐXX không xem xét, giải quyết.
Về án phí: Chị H Đ phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm.
Xét quan điểm và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk tại phiên tòa là có căn cứ và đúng pháp luật nên Hội đồng xét xử cần chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, các Điều 58, 81, 82, 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Căn cứ khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị H Đ được ly hôn với anh Y W.
2. Về con chung: Giao con chung cháu Y Anh K, sinh ngày 21/11/2010; cháu H’ Bê L, sinh ngày 29/11/2015 cho chị H Đ trực tiếp nuôi dưỡng và chăm sóc cho đến khi đủ 18 tuổi.
Anh Y W được quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung mà không ai được cản trở.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Không yêu cầu giải quyết.
3. Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết.
4. Về án phí: Chị H Đ phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo biên lai số AA/2021/0016806 ngày 16/02/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện K, tỉnh Đắk Lắk.
5. Thông báo quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đắk Lắk; - VKSND huyện Krông Pắc; - Chi cục THADS huyện K; - Các đương sự; - Cổng thông tin điện tử Tòa án (nếu có); - UBND xã E, huyện K; - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Vũ Đình Nam |